1. Thuyền Bát-Nhả
Ngài Trần-Huyền-Trang và ba đệ-tử là Tôn-Ngộ-Không, Chư–Bát-Giới và Sa-Tăng trên đường đi đến Thiên-Trúc để thỉnh Kinh đã phải vượt qua không biết bao-nhiêu gian-nguy, hiểm-trơ,û rốt cuộc rồi cũng đã đến nơi.
Hôm ấy, cả bốn Thầy trò đi gần đến Chùa Lôi-Âm, nơi Phật-Tổ Như-Lai ngự, bổng thấy trước mặt có một con sông thật lớn. Trong khi mọi người đang lúng-túng không biết cách nào để vượt qua sông thì Tôn-Ngộ-Không vội chạy xung quanh vùng để tìm phương-tiện sang sông và nhìn thấy một chiếc cầu có dựng bảng đề tên “Lăng-Vân-Độ”. Nhìn kỷ lại thì đó là một “độc mộc kiều”, một chiếc cầu bắt vòng qua biển như một chiếc mống.
Độ khoảnh khắc sau, Ngài Huyền -Trang và hai người đệ-tử kia đi đến. Khi nhìn thấy chiếc cầu, Ngài Huyền-Trang buộc miệng nói:
- Cây cầu nay, trừ các vị Tiên, Phật ra, còn người phàm-tục làm sao đi qua được !
Tôn-Ngộ-Không đáp :
- Nếu không qua cầu này thì sẽ không còn đường nào khác nửa.
Trong khi mọi người còn mãi lo-lắng tìm cách qua sông thì bổng từ xa có một chiếc thuyền đang chèo đếùùn. Quá đổi vui mừng, cả ba người đệ-tử đều vẩy tay ngoắc gọi.
Trong khoảnh khắc thuyền từ từ cập bến. Vì sợ yêu-quỉ giả-dạng ám-hại Thầy mình, nên Tôn-Ngộ-Không đã nhướng cặp mắt thần-thông nhìn ông lão chèo đò và nhận ra đó là Ngài Tiếp-dẩn Đạo-sư Bảo-Tràng Quang-Vương Phật.
Cảm-thấy yên lòng, nên Tôn-Ngộ-Không đưa tay dìu Thầy xuống thuyền. Khi đưa chân định bước xuống thuyền, Ngài Huyền-Trang bổng đứng khựng lại. Thì ra chiếc thuyền không có đáy. Thấy thế, Tôn-Ngộ-Không liền bảo:
- Xin Thầy đừng sợ, thuyền nầy tuy không đáy nhưng không có sóng to gió lớn nào có thể làm chìm nó được.
Tuy nghe Tôn-Ngộ-Không nói như vậy, Ngài Huyền-Trang vẫn chần-chừ không lay động. Vì không thể để Ngài Bảo-Tràng Quang Vương Phật chờ đợi lâu hơn nên Tôn-Ngộ-Không buộc lòng phải xô Thầy xuống thuyền. Xong, liền ra lệnh cho Chư-Bất-Giới, Sa-Tăng đưa hành-lý và dắt ngựa xuống thuyền rồiø ra hiệu cho thuyền rời bến.
Thuyền đi được một đổi Ngài Huyền-Trang mới hoàn hồn lại được. Trong lúc ấy bổng thấy có một xác chết trên sông từ xa trôi lại.
Khi xác chết vừa trôi ngang mạng thuyền thì Ngài Huyền-Trang bổng thét lên một tiếng kinh-hoàng, thì ra xác chết trên sông, từ nét mặt, dáng-dấp lẩn y-phục đều giống Ngài như hai giọt nước.
Liền đấy, Ông lão lái đò tức Ngài
Bảo-Tràng Quang-Vương Phật vội vòng tay vái Ngài Huyền-Trang và nói:
- Chúc mừng Ngài đã qua sông.
Đến đây, Ngài Huyền-Trang thực-sự đã qua sông, đã lìa bờ “Mê” sang bến “Giác” sau khi bỏ lại thân xác tứ-đại luôn-luôn đắm chìm trong vòng kiềm-tỏa của dòng sông ngủ-uẩn.
*
* *
Theo lệ thường giữa hai bờ sông, muốn từ bờ nầy sang bờ kia con người cần phải có phương-tiện như cầu, thuyền hoặc bè ... để vươt qua. Trong nhà Phật giữa Mê và Ngộ cũng có khoảng cách tượng trưng bằng một giòng sông, nên thường được gọi là “bờ Mê”, “bến Giác”. Muốn rời bờ Mê sang bến Giác cũng cần phải có phương-tiện là thuyền Bát-Nhả.
Thuyền Bát-Nhã chính là trí-tuệ Bát-Nhả. Không có trí-tuệ Bát-Nhã người học Đạo không thể nào sang được đến bờ Giác. Vì có trí-tuệ Bát-Nhã người học Đạo mới thoát ra khỏi vô-minh và thấy được thật tánh của các pháp, mới nhận ra được lý duyên-sinh đồng-thời vượt ra ngoài sự đắm-nhiểm của mọi sự vật ở đời vì tham, mê, lầm chấp. Và chỉ có khả-năng siêu-việt đó của trí-tuệ Bát-Nhả mới có thể giúp được người học Đạo đạt đến chổ giác-ngộ.
Do đó, khi nhìn thấy xác của Ngài Huyền-Trang trôi trên dòng sông, Ngài Bảo-Tràng Quang-Vương Phật đã vòng tay chúc mừng.
Ngày xưa, cũng trong cùng một quan-điểm về Đạo pháp, Ngài Tào-Sơn đã khai-ngộ điều nầy cho một vị Tăng khi vị nầy đến hỏi Ngài:
- Thưa Hòa-thượng, thế nào là một lưởi kiếm không mủi nhọn ?
- Đó là lưởi kiếm không do tôi-luyện mà thành.
- Như vậy công-dụng của nó sẽ như thế nào ?
- Ai gặp cũng đều phải chết.
- Còn người không gặp thì sao ?
- Cũng bị rơi đầu luôn.
- Người gặp phải chết thì đả đành, còn người không gặp sao cũng phải rơi đầu ?
- Ông không từng nghe nói: phải diệt sạch hết đó hay sao?
- Nếu diệt sạch hết rồi thì sẽ như thế nào ?
- Thì mới hay là có cây kiếm ấy.
Lê-Trung-Cang