Năm Cam - canh bạc cuối cùng! - Thanh Trì
 21 Tháng 12 năm 2012. Ngày Tận Thế (?) - Nhất Hướng
 Tuổi ấu thơ - Lê Trung Cang
 Giấc ngủ trưa Hè - Lê Trung Cang
 Dị Ứng - Lê Trung Cang
 Diêm-vương, Ngài là ai ? - Lê Trung Cang
 Người phỉ báng Phật - Lê Trung Cang
 Mẹ và Chị - Lê Trung Cang
 Chị tôi - Lê Trung Cang
 Nội - Lê Trung Cang
 Quyền làm chủ - Lê Trung Cang
 Ba Anh Em - Lê Trung Cang
 Diêm Vương luận án - Lê Trung Cang
 Xin cho tôi thêm một đóa Hoa Hồng - Lê Trung Cang
 Thuyền Bát-Nhả - Lê Trung Cang




VanTuyen.net_______
Tac pham: 982
Trang: 2185
Tac gia: 380



Âm nhạc Bút ký Biên khảo Chuyện phiếm English Française Học làm người Hồi ký Huyền bí Kịch bản Kiếm hiệp Nhận định Pháp luật Phê bình Phỏng vấn Phiếm luận Quê hương Sức khoẻ Song ngữ Tài liệu Tùy bút Tạp ghi Tạp luận Tạp văn Tản mạn Tản văn Tập truyện Tự truyện Thương tiếc Tiểu sử Trang VĂN NGHỆ Triết học Truyện dài Truyện dịch Truyện ngắn Truyện vui Điểm nóng


vantuyen.net xin giới thiệu đến bạn đọc: Quân sư
Thể loại: Truyện ngắn
Tác giả: Giản Tư Hải

Thông báo: Những bài vở mới sẽ được đăng trên VĂN TUYỂN 2 và những bài đăng tiếp tục vẫn đăng trên VĂN TUYỂN 1.

 

Cảm thức vô biên dành cho Ninh Hòa

» Tác giả: Tôn Thất Tuệ
» Dịch giả:
» Thể lọai: Tản mạn
» Số lần xem: 1729

1. Cảm thức vô biên dành cho Ninh Hòa

Từ Saigon, tôi thường lui tới miền Trung trên những chiếc máy bay nhỏ ven bờ như thuyền đánh cá cận duyên chỉ có khác là ở bên trên....Một lần ngồi bên một khách đồng hành rất duyên dáng tôi nhìn xuống biển nói: Đó, Ninh Hòa nơi chị tôi lấy chồng đi lính và đồn trú quanh Nha Trang. Làm ra vẻ đoan chắc tôi nói tầm bậy, nường gạn lại: "Biển nào cũng biển sao ông nói là Ninh Hòa, ông có chắc không"? Tôi không đáp mà ngã người, ngủ trong vòng tay của chị. Từ khi tôi lên máy bay ở Huế, chị tôi đã chiếm không gian tư tưởng của tôi. Người chị ấy lấy chồng đi lính, đồn trú ở Ninh Hòa. Vậy nơi nào chẳng Ninh Hòa dù bên dưới là Tân Sơn Nhất, người đẹp của tôi ơi.


Đại khái đó là phần kết truyện ngắn Mẹ và Chị  của tôi,  không hẳn là một tự truyện nhưng dựa trên đời sống thật của một người chị vừa là mẹ, thay mẹ khi mẹ chết sớm. Người chị ấy có thật và sống thật một thời gian ngắn dài không rõ ở Ninh Hòa và phụ cận. Lúc ấy sau 1954, tôi mua vé xe Hiệp Thành từ Huế vào Nha Trang, hơn bốn ngày mới đến vì đâu cũng phà, tiêu thổ kháng chiến còn để lại các vài cầu trồi mình khỏi mặt nước: Trà Khúc, Đà Rằng ...Khám phá thứ nhất ở xứ Khánh là người ta nấu canh chua với lá me, khi thấy các em bé hái lá me bên đường, xếp thành bó nhỏ. Khám phá thứ hai là chiếc xe ngựa không có ngựa trên những bãi phân ngựa còn xanh ở Ninh Hòa.


Tôi nói khám phá vì tôi thấy nó lần đầu tiên trong một tâm trạng rất khác thường. Cậu học trò Huế vừa xong đệ nhất cấp nằm mơ thấy chị ở Ninh Hòa bị mất trộm. Tôi nói với người anh tôi phải đi ra đó xem sao. Chiếc xe lửa chạy than để lại trên áo nhiều bụi đen khi qua cái hầm ngắn thả tôi xuống Ninh Hòa. Tôi đi vào một khu nhà lá nghèo, nơi vợ lính thường thuê nhà ở quanh nhau. Đến nơi chừng chín giờ sáng, tôi thấy nhà trống. Người bên cạnh cho biết chị tôi tối qua đem con đi bệnh viện. Gần tương ứng giấc mơ bị trộm nói trên. Tôi thấy sợ sệt và chơ vơ.


Trước ngõ, một cỗ xe ngựa đứng yên bên bờ dậu, những bãi phân ngựa còn xanh chạy mãi tận kia. Những con ngựa đã xa vắng như chị tôi xa vắng đâu xa ở nhà thương với đứa con. Căn nhà ấy, chiếc xe ngựa ấy. Chị tôi về nhà bình yên. Xế chiều cùng ngày tôi trở về Nha Trang. Chiếc xe ngựa vẫn còn đó nhưng quay ngược đầu.


Tôi tìm lại những điều trên đây khi thắc mắc cả tháng nay sao lòng tôi  - từ khi gặp ninh-hoa.com - cứ quyến quận cái Ninh Hòa xa xôi ấy, cái Ninh Hòa tôi chưa biết mặt mũi ra sao. Tôi nghĩ ngần ấy chuyện không đủ làm tôi thức đến hai giờ sáng đọc cho hết những bài của Lương Lê Minh Trí, ngẫm nghĩ hoài vì sao người Ninh Hòa yêu mến sông Dinh hơn người Huế yêu sông Hương, ngẫm nghĩ hoài một địa danh không có gì nỗi tiếng trong quá khứ lại có những dòng thơ rất lạ, những cảm quan triết học không mô tả qua các thuật ngữ chuyên môn mà qua những hình ảnh và ý thơ.


Cọp Ninh Hòa nghe mà kinh, nhưng người ta vẫn ở nơi nhiều cọp vì cọp dữ không nguy hại như người dữ, y cứ câu chuyện của Khổng Tử. Nói vậy phải chăng có nghĩa người Ninh Hòa dễ mến, kẻ khác muốn lại gần cho dù cọp nhiều ghê lắm. Thật vậy thì hay qua.Tôi thấy hình Nguyễn Thị Thanh Trí, Đặng Trùng Dương thật hiền lành không kém Đàm thị Ngọc Lý bên cạnh nét sâu thẩm thời tuổi thơ của Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa. Nét trong lành mẹ dựng còn nguyên nơi Hà Thị Thanh Thủy, Trương Tiểu Dung ngày chưa quá đôi mươi. Nhìn chung những tấm ảnh lớn tuổi hơn, nam lẫn nữ đều hiền hòa, qui hướng nội tâm, một Lương Lệ Huyền Chyêu, một Diệp Thế Mỹ, một Thanh Mai, một Dương Tấn Long, một Trương Thanh Sơn...


Nhạc phụ tôi luôn nhắc nhở: Tướng tại tâm sinh. Quả vậy, theo tôi những người tham gia ninh-hoa.com, qua những phần viết, ôm giữ những giá trị tinh thần, một tính tôn giáo siêu nhiên không gò ép trong một mô thức, họ không dùng những danh từ đặc thù của tôn giáo mình mà chỉ làm cho người nghe và người đọc biết là tác giả có một niềm tin, một đức tin, một thiết tha vĩnh cửu. Thế thôi, vì từ đây là vùng không lời, vô ngôn giới, của người nói, người nghe, của người viết, người đọc, thênh thang ngàn lối về nơi đỉnh hội ngộ của thi ca, của khoa học, của triết lý, của tôn giáo:


......


đã lưu lạc trong sắc màu ngạo nghễ


giữa ánh đèn giả tạo chốn phồn vinh


rồi mai đây khi vầng dương khuất bóng


biềt về đâu trong biền biệt tử sinh...(Rong Biển, Thanh Mai).


Vâng, tử sinh là hai mặt của cuộc đời. Nếu không có cuộc đời thì không có tử sinh; nếu không có tử sinh thì không ai thấy cuộc đời. Đến một mức tử sinh là một. Hòn Vọng Phu không phải là một cặp tử sinh hay sao? Cái chết của thiếu phụ nẩy sinh cái sống của chờ mong; chờ mong chồng về sau chiến tranh, chờ mong tin nhạn, chờ mong một thời an bình cho xóm làng cho nhân loại. Người Ninh Hòa nhìn Hòn Vọng Phu với tất cả chờ mong, với tất cả ước nguyện, hoặc như một đối ảnh của tàn phai:


Người về ngó núi ngó non


Thấy người hóa đá vẫn còn đứng kia


người về nghe những tàn phai


người về tìm lại những ngày quên nhau. (Tàn Phai, Đặng Trùng Dương)


Lại một cặp tử sinh, cách nhau đường tơ, bằng một dấu mũ: những ngày quen nhau và những ngày quên nhau. Tôi đã tìm gặp cái sầu muôn thuở của tôi nơi Đặng Trùng Dương.


Tuy trông tương phản, người hóa đá kia được dùng như một biểu tượng của bất biến. Nói thế là vì Đức Phật mượn sông Hằng làm ví dụ của sự bất sanh để tả cái bất diệt nơi vua Ba Tư Nặc vì ông vua nầy vẫn thấy sông kia như nhau khi ba tuổi mẹ đưa qua đò ngang và khi già yếu. Người hóa đá ấy là dấu hiệu nhân thể để nói với trời đất rằng bên trên hay bên dưới, đông hay tây, con người là đáng trọng hơn hết (thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn). Người Âu châu vẫn mường tượng một nữ thần dùng mái tóc tỏa hương cho cả Địa Trung Hải. Nhưng biểu tượng của chúng ta hôm nay rất người, với những thương mến rất người, cũng thấy những phôi pha những nồng nàn.


Chính cái nét người ấy đã làm cho vùng thiên nhiên bao quanh Ninh Hòa cùng với lòng người tạo nên một thế liên hoàn. Sự tiếp nhận thiên nhiên ngoại cảnh vào vũ trụ nội tâm là giá trị thứ hai mà người Ninh Hòa ôm ấp bên cạnh giá trị tôn giáo tính siêu nhiên nói trên.


Người xưa đốt lá trên rừng


Khói bay về tận. Để mừng tuổi em


Người xưa múc nước trên nguồn


Đổ vào suối nhỏ. Để mừng tuổi em.


(Để Mừng Tuổi Em, Phù Vĩnh Sơn).


Nhưng sự hòa nhịp cao độ, theo tôi, được dành cho sông Dinh. Trong ba con sông mà Phạm Đình Chương gọi là ba chị em, tôi chỉ lấy sông Hương đem so với sông Dinh vì hai sông kia quá lớn về vóc dáng và ảnh hưởng kinh tế. Tôi chưa bao giờ nhìn sông Dinh. Sông Dinh phơi cát vào tháng ba trong lúc sông Hương bao giờ cũng nước xanh. Đến với dòng sông là khuynh hướng tự nhiên của con người, có thể vì thân thể ta chứa hơn một nửa thể tích là nước. Tôi không có ý niệm về sự đóng góp kinh tế của 51 kilomet nước nầy. Ninh Hòa nằm ngay cận biển; tôi có đọc đâu đó trên web nầy sông Dinh bồi nhiều phù sa cho những ruộng lúa hai bên. Tuy vậy, tôi không nghĩ ảnh hưởng vật chất ấy đã giải thích địa vị sông Dinh trong lòng người Ninh Hòa.


Tôi tự cảm nhận mà không có dữ liệu rằng trái với quan niệm thông thường, sông Hương không được thương mến ở địa phương bằng sông Dinh. Cũng như ở Mỹ đội football Packers được xem là có nhiều ủng hộ viên nhất ở tiểu bang Wisconsin nhưng ngôi vị nầy thuộc đội Saint ở Louisiana. Dương Tấn Long có thể không thành công trong việc dùng thống kê văn thơ nhạc để phán xét sông nào cao điểm hơn. Sông Hương với vị thế địa dư và lịch sử nằm ngay giữa giao lộ của các luồng tư tưởng, những sinh hoạt chính trị chắc hẳn phải được nhiều người nhắc đến. Để đánh giá vị trí tâm cảm của sông Dinh, thiết nghĩ nên xem sự nồng nàn trong văn tự, sự tha thiết giữa cảnh và tình (người và vật), vị trí con sông trong lịch sử và địa dư cùng ảnh hưởng của con dân Ninh Hòa trên toàn bộ sinh hoạt trong và ngoài nước. Sẽ có một tỷ lệ rất cao.


Riêng với tôi, điều quan trọng là những thành viên trong website đã đổ nhiều tâm lực vào con nước nhỏ nhoi nầy, như cái e ấp ấm cúng của riêng tư. Đối với tôi là một huyền nhiệm vì mối tương cảm và thương cảm giữa con người và con người và ngoại vật là những huyền nhiệm chỉ có thể cảm nhận qua trực giác.


Người bỏ Ninh Hòa người ra đi


Người bỏ sông Dinh bỏ những ngày


Tháng ba bãi cát phơi đầy nắng


Tháng tám mưa dầm con nước xuôi.


Người bỏ chợ Dinh người ra đi


Bỏ lại sau lưng những bóng người


Trưa nắng khua buồn đôi guốc gỗ


Những giọt mồ hôi trên tóc mây.


(Một ngày bỗng nhớ, Đặng Trùng Dương)


Vâng, tôi, Đặng Trùng Dương, đang đứng giữa nắng hè, tôi sống trong sự vận hành của càn khôn nhật nguyệt, của mưa nắng hai mùa. Tôi đang nghe tiếng guốc chấm phết câu văn nội tâm của tôi; những giọt mồ hôi ướt trán sau một khúc hát trần ải của tâm linh; và sông Dinh đang chuyển tải những tâm tình; và nơi chợ Dinh tôi bày bán những giờ chiêm nghiệm, những suy cảm triền miên, những câu thơ không suông sẻ, những dòng chữ chạy đua không kịp với ý tưởng.


Vâng, tôi, Đường Du Hào, tôi gióng trống dục triệu hồn người. Hồn của mẹ tôi, hồn của tôi, hồn của nước tình từ thượng nguồn; ba thứ ấy đã chảy vào sông Dinh, ba thứ ấy - uyên nguyên, hiện hữu và hóa thân - ôm lấy nhau mà ẩn mà hiện không như ba nước Ngô Ngụy Thục quyết giết nhau mà thôi.


Mẹ,


thân cò, buôn gồng bán gánh


từng thúng gạo. Nuôi sáu đứa con.


Ngủ giấc ngàn khi lá thu vàng ánh


rụng trên đồi. Buồn chuyện nước non.


Ta,


con kiến bò theo đại lộ


của đời người. Một thoáng hư vô.


Gặm mấy lá thu phong đỏ úa


cho hết kiếp phù sinh. Lọt xuống mồ.


Tình,


dòng nước chảy từ thượng nguồn


vào sông Dinh. Tắm mát tuổi xuân tươi.


Trọn kiếp đời ly bôi chưa uống


đã từ biệt. Trống dục triệu hồn người.


(Tình Mẹ Con, Đường Du Hào)


Ở điểm nầy tôi thấy các bạn đã - hay trên đường - đạt  điều trong Đông phương học gọi là "tình dữ vô tình đồng viên chủng trí" (nói cho dễ hiểu, người và vật đã về nơi qui hội), một thứ "vạn vật nhất thể.


Nói vạn vật nhất thể thì to quá. Nên tôi xin về giá trị thứ ba trông rất nhỏ như hạt muối Hòn Khói mà cùng bản chất với biển cả vòng quanh. Ý thức về mẹ. Tuy không phổ quát như tình yêu, đề tài nầy ít nhiều làm sườn cho bối cảnh sáng tác; khi thì không rõ như chỉ nói quê mẹ, tiếng mẹ ru; khi thì nêu hẳn một kỷ niệm hay một nét sống. Lý Hổ từ Canada mộc mạc nói:


Phật kinh có bảo ta rằng


Mẹ là Thánh Mẫu của con ở đời.


Phạm Thiên Thư thêm chi tiết và thi vị hóa:


Con ơi mẹ là Thượng Đế cho con tâm lý nguyên sơ


câu ru và dòng sữa qúi, cho con nguyên lý diệu vời.*


Thượng tầng cơ sở nhận thức nầy sẽ được nhận chân khi so chiếu với một đoạn ngắn của lịch sử và cuộc đời cá biệt của từng bà mẹ. Cứ lấy tuổi trung bình 55 đến 60, những cây bút của chúng ta đủ trưởng thành để thấy cái cơ cực của mẹ (chưa kể trường hợp chính mình là mẹ trong thời gian quáy dị nầy nơi xứ Âu Lạc). Cuộc chiến dai dẳng, với cường độ lên xuống như con nước, không ngừng sản xuất cô nhi và quả phụ; nhưng rất may sự thể trót mức nầy không thấy trên những bài viết của website nầy. Nhưng sự cơ hàn thì cao hơn mí mắt. Bức thư gởi mẹ của Lương Lệ Bích San phóng chiếu nỗi bi đát của một bà mẹ mười con ở vào thế chân tường, như con nai vàng ngơ ngác vây quanh với dáo mác cung tên. Nguyễn Thị Cẩm Vân giờ nầy vẫn còn ân hận không thể giúp mẹ làm cuộc viễn du rất gần từ bờ biển Ninh Hòa lên Cao Nguyên Lạng Biên trong tầm kêu tiếng gọi dấu ngoắc tay, cuộc viếng thăm Đà Lạt chỉ là ước mơ không vời đến được. Trong một luận thuyết rất ngắn, Lương Lệ Huyền Chyêu nêu lên niềm đau mẹ mất con vì chiến tranh. Trên tôi nói đoạn ngắn của lịch sử, nhưng là đoạn rất dài của đời người. Lịch sử đo bằng thế kỷ, con người đo bằng giờ, ngày. Một số lớn các bà mẹ đã ra đi vào lúc kinh tế khó khăn nhất tuy đã bắt đầu "sự nghiệp" vào lúc khó khăn không kém mấy chục năm trước.


Một bà bạn của tôi ở Nam Cali, giàu có, vợ của một bác sĩ chỉ mong, và không bao giờ có, mấy đứa con hỏi xin một cái gì. Khi cần tiền, đứa út hỏi bà có cần sắp xếp garage không; có cần chùi chiếc Mercedes cho lán không, có cắt cỏ không, có cào lá mán xối không. Bà cho thêm tiền nó không lấy, nó tự tính mức công xá theo số giờ làm việc. Chỉ có mối tương quan thương vụ. Đối phần của sự giàu có và quan niệm tự lập cao độ sẽ đánh mất của ta những tâm tình sâu đậm cho hiền mẫu nơi Phan Thị Hương Thu, Lê Thị Đào, Lữ Thanh Phương, Phạm Dạ Thủy.....Thân mẫu của Nguyễn Thị Thu, một nữ hộ sinh, đến cuối đời khi mất hết trí nhớ, vẫn ôm ấp con búp bê như ôm bé Thu, ôm những đứa bé khác chào đời mà bà là nhân chứng ghi trên tờ khai sinh. Quả thật tiềm thức có sức mạnh vô biên.


Tôi có một câu hỏi người ta nêu ra. Vì sao văn thơ ít ra ở VN chỉ nói đến mẹ, chị, em gái, quê ngoại và ít nói về cha, anh. Ở Mỹ ngày của mẹ được thương mãi hóa nhiều hơn ngày của cha. Ngày của cha, Home Depot để ra trên lối đi những đề nghị cho cha như cái cuốc cài cào, chiếc xe cắt cỏ, cái búa kiểu mới trong nịt đeo da vàng. Ngày của mẹ hoa là nhiều nhất, nước hoa, kim cương v.v... Thật ra, phụ nữ nhiều nhân tính hơn, nhiều trực giác hơn. Tiếng nói của mẹ, với VN là câu ru, là cửa ngõ của ngôn ngữ. Bé câm vì bé điếc bẩm sinh. (vì vậy ta có tiếng mẹ đẻ, mother tongue, langue maternelle).  Xúc giác là cơ quan cảm nhận đầu tiên, nhờ vú mẹ, nhờ thân hình mẹ, bé có ý niệm về thiên nhiên cho nên con người thích vòng tròn đường cong hơn hình vuông, có góc cạnh. Thức ăn là mối liên hệ vô cùng mật thiết. Con người có thể quên tổ quốc, ngôn ngữ, quên hết trừ món ăn mẹ cho lúc ban đầu. Ngay với thú vật, con gà mới nở chỉ ăn thứ gì mẹ cắn và nhả ra, trong nhà con mèo theo người cho ăn.


Tôi hơi quá xa với đề tài; nhưng cái không gian vô tận của vòng tay mẹ, và các yếu tố sinh thành tâm lý và vật chất nêu lên để minh chứng cái giá trị mà người Ninh Hòa hàm dưỡng. Mà giá trị ấy cần được tô đậm vì nó là một trong những cột trụ chính của nền văn minh VN, cái văn minh chúng ta đang cần hôm nay. Trước khi chuyển đoạn, tôi xin nêu ra cái nghịch lý về mẹ.


Không phải ai cũng có diễm phúc như Phó Đức Lân Canada sống bên mẹ suốt đời để có dịp hỏi mẹ sinh ra mình phải chuyển bụng ra làm sao. Với sự ly tán của thời cuộc, với cuộc sống thiếu dinh dưởng và khổ nhọc, tuổi thọ dân ta trong đó có mẹ tương đối ngắn, và đa số thành mồ côi rất sớm. Đa số người ta không đặt vấn đề mẹ, mẹ ta ta xem như đương nhiên thương yêu ta. Ta chỉ hỏi người yêu có yêu ta không. Nếu có thì hỏi tiếp rồi ra có còn yêu ta nữa không. Yêu ta thật hay giả, qua đường chăng? nàng/chàng nói như vậy nghĩa là sao? Hỏi và chỉ hỏi mà thôi. Trời mưa đến nhà nàng; nàng đưa cho cái khăn lau khô mặt. Ôi nó dịu dàng làm sao, tưởng như không còn gì dịu êm hơn. Anh đến thăm em một chiều mưa ...


Nhưng chàng ta không biết trong quá khứ bao lần, mẹ phải nằm bên chiếu ẩm nơi chàng đã đái dầm, nhường chỗ khô cho chàng, mẹ qua chỗ ướt. Mẹ đã bao lần lau đầu con khi cùng lũ trẻ tắm mưa dông; đã bao lần khâu áo, mỗi khi đi học về áo quần sút chỉ như lính hành quân xong. Như không khí ta tự nhiên mà hít thở, như dòng sông ta cứ tự nhiên uống nước, tình yêu của mẹ không điều kiện, mẹ đã gian nguy vượt cạn thành công. Tình thương của mẹ vô điều kiện trong lúc tình thương của chàng của nàng có điều kiện, ít nhất là trung thành, yêu hoa yêu cỏ càng nhiều càng tốt nhưng đừng yêu kẻ thứ hai. Có những kẻ dị hợm, thù ghét phụ nữ nhưng phải thốt lên rằng chỉ có một người đàn bà không lừa dối tôi, ấy là mẹ tôi.


Tính chất vô điều kiện ấy đã giải tỏa mẹ khỏi những vướng bận, dành thì giờ đối chỏi với ngoại cảnh trong nhiệm vụ thiêng liêng nhất là bảo vệ đàn con. Trong Kinh Phật, bóng mát cho ta cái dịu êm, con ngựa kéo xe cho ta, cô mụ giúp ta qua mùa nở nhụy...đều là Quán Thế Âm, thì sao ta không lập thêm một câu niệm: Nam Mô Đại Bồ Tát Mẹ (Namu Mama Maha Bodhisivatta). Mẹ không cần, chỉ là một danh từ. Không nói ra nhưng mẹ đã là kim cang bất hoại thân. Hồn phách của mẹ đã / sẽ thể nhập với người hóa đá kia, đứng trên cao, tinh hóa nước mưa để đổ vào sông Dinh, đuổi hết tà ma, chận hết ám đạm, chỉ cho khí lành đi xuống đồng bằng, như ngày kia có bà mẹ cầm chai Nhị Thiên Đường bảo cô chị tên Huyền Chyêu xức vào mũi cô em Bích San không thì cảm gió trên xe hỏa đi thăm bố ở Tuy Hòa. Vĩ đại nằm trong nhỏ nhoi, nhỏ nhoi nằm trong vĩ đại.


Nếu hình ảnh mẹ là một bối cảnh làm nền cho những đậm đà cho chính người viết, (còn người đọc chỉ ăn ké xí phần) hình ảnh cô giáo, thầy giáo nhà trường, học sinh đã lên hàng đầu sân khấu. Tôi tạm gọi một nền văn minh mô phạm.


Ở Mỹ nhiều thị trấn nhỏ sống nhờ vào một viện đại học vì ngân sách khổng lồ của nó và nhiều thương vụ kế cận trực hay gián tiếp. Nhưng hai bên chỉ có quan hệ thương mãi. Ninh Hòa không ở trong phạm trù nầy. Đối với vùng đất của Người Trông Chồng, giáo dục là một nếp sống gia đình, tập thể, một dòng sinh hoạt văn hóa, một sợi dây liên kết trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, nếu không muốn nói thêm, móc nối trong một chuổi dài lịch sử. Cái thầm lặng các khuôn viên nhà trường, hơi hưởng của không gian mô phạm tương đối lành lẽ hơn các nơi khác. Lý do, như Vinh Hồ viết, trong suốt 100 đô hộ Pháp và 30 năm nội chiến, Khánh Hòa may không chứng kiến những thảm khốc quá mức của bạo động như từ Phú Yên trở ra.


Webmaster Nguyễn Văn Thành tưởng đã chụp được con mồi săn đuổi từ lâu khi tôi gởi một email ngắn. Anh tưởng tôi là thầy giáo cũ, với rất nhiều nồng thắm tình thầy trò. Tôi tiếc lúc nhỏ quá lãng tử mà không đi sư phạm để có kẻ thương nhớ khi đã lăng lóc quá nhiều trong cuộc đời. Đa số thành viên ninh-hoa.com là nhân viên giảng huấn các trường trung tiểu học công lập, tư thục, bán công. Họ có may mắn nhìn về thời cuộc và giáo dục trước và sau 1975. (Lớp người trẻ chưa có thì giờ tạo nên một đường nét riêng về văn nghệ và giáo dục).


Cho dù có thay đổi bao nhiêu, họ chưa chấp nhận quan niệm của Mỹ xem thầy cô như những người biết hơn trò và có nhiệm vụ chuyển tải tri thức, một dạng computer. Điều Nguyễn Thị Thanh Trí viết dưới đây hy vọng sẽ được đưa vào thực tế sau khi nền giáo dục hiện nay được điều chỉnh trong một tinh thần mới dung hòa các khuynh hướng mà không ra khỏi truyển thống VN:


"Nghề làm thầy là dạy người biết sống làm người, biết xấu hổ với chính mình, xấu hổ với mọi người, xấu hổ trước những cái ác, trước những cái không phải".


Thật ra, các bài viết ít đề cập đến triết lý giáo dục. Trái lại chúng diễn tả một sinh hoạt bao trùm mối tương hệ giữa người và người. Tôi hiểu thái độ vồn vã của Nguyễn Văn Thành như trên sau khi đọc Nguyễn Văn Ty dành tất cả tâm tình cho người thầy cũ và các thầy khác. Tôi nghĩ công việc của nhà giáo, khung cảnh nhà trường, cơ hội tiếp xúc với học sinh và phu huynh là những điều kiện tốt cho việc sáng tác. Một ví dụ:


Một bé gái đến nhà cô giáo khóc, tay cầm cái bao nylon trống không. Bé đem cho cô hai quả trứng gà so nhưng dọc đường người ta đụng vỡ hết. Thường tình nếu thế thì lờ đi chờ ngày khác. Nhưng bé đến nhà cô, không với tư cách người nhận quà hụt mà là một người bé cần chia sẻ tâm sự ấy.


Trên đây tôi chỉ lướt qua một số đóng góp rất ít so với tổng lượng sáng tác và phát hiện bốn giá trị tinh thần: tính tôn giáo siêu nhiên, hòa đồng với thiên nhiên quê quán, mẹ và giáo dục. Tiếp đến, tôi xin sơ phát vài ưu điểm năng hoạt mà tôi có ý dành cho nhân vật đầu tiên trong loạt bài Cảm Thức Vô Biên. Nguyễn Văn Thành.


Khi đọc email của Thành, tôi vẫn nghĩ là cậu học trò trung học quyến luyến ông thầy xin mấy dòng lưu niệm ngày hè hay khi bước vào đại học. Thật ra đó là người mà Trần Ngọc Chánh tả là "dáng người phương phi đầy phong độ vẫn còn trẻ khỏe yêu đời lúc nào cũng nhớ về quê hương yêu dấu với bao kỷ niệm". Rồi tôi lại nghĩ vẫn là cậu học trò mà thôi.


Thật vậy, những ai lước qua web nầy cũng phải thấy mình trẻ lại. Tôi không nghiêng về lối giải thích sau đây: đối với người lớn tuổi quá khứ là hiện tại. Trái lại tâm thức và lòng thiết tha làm chúng ta trẻ lại. Tôi nghĩ mọi người đã tuốt bỏ những bộ áo đời láng lẫy hay tả tơi như những đứa trẻ tắm mưa, hình ảnh Lương Lệ Minh Trí phát họa linh hoạt:


Uống chưa say lại ước trận mưa đầy


cởi hết áo trắng đen tìm máng xối


như ngày xưa còn bé tắm mưa hè. (Đồng Dao)


Hoặc cùng nhau lội nước khi sông Dinh tràn bờ hay vui say hai năm một lần khi chùa Cát làm chay. Bạn hôm nay thành trẻ thơ chia sẻ với Hà Thị Thu Thủy nỗi hân hoan và lo âu của ngày đầu mặc chiếc áo dài thành người lớn, với Phan Thẫm lần đầu tiên ngồi trên chiếc xe đạp.


Hãy giữ cái hồn nhiên của tuổi thơ, tưới mát cho cả cuộc đời. Chúng ta cần cái thần tiên ấy để có cái nhìn trung thực về những phức tạp trước mắt.


Nhưng ngược lại, trang điện tử nầy đem lại những hoài niệm ray rức, những cấu xé lương tri.


Ta nhớ rừng xưa, nhớ núi xưa


dã quỳ vàng rực lúc chớm trưa


có con bướm lượn quanh nòng súng


chia sẻ cùng ta khói thuốc thừa. (Nhớ Quên, Dương Alpha).


Sao cái ấy, sự thể ấy, sự thay đổi tận gốc ấy không đến sớm hơn hay chậm hơn một chút giùm tôi mà xẩy ngay vào lúc tôi mười tám. Tác giả của Khi Tôi Mười Tám Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa đã bắt đầu cuộc đời riêng cùng sự bắt đầu chung của giai đoạn mới. Mà đời riêng chẳng có gì riêng; thậm như "thèm cốc ca phê nóng nhưng ngại bị phê bình không dám dậy" khi đi công tác ở núi rừng; "đem cái đầu có kiến thức cũ lắp vào cái miệng mới phát ra những điều mà tự thấy dối trá; đau đớn cứ thế vò xé tâm hồn".


Hoàn cảnh đất nước được vẽ lại dưới mọi khía cạnh; từ đó ta tìm gặp tính cách nhân chứng nếu muốn dùng thuật ngữ của trường phái hiện sinh thập niên 1950. Người viết lấy cảnh đời làm cảnh mình, nói khác tuy nội dung là chuyện một cá nhân, độc giả có thể hình tượng rộng rãi hơn, một tập thể một giới người.


Nếu không muốn dùng một chữ hơi quá lớn là sử tính, ta có thể nói trang điện tử nầy rồi ra sẽ là một kho tài liệu cho ngành nhân chủng học. Lễ làm chay tại chùa Cát qua Lương Lệ Minh Trí cho thấy sinh hoạt nầy biểu hiện một thứ Phật giáo hòa lẫn với đời sống tại chỗ. Đám rước cô hồn vào ban trưa với chiếc tù và làm bằng con ốc là một mối giao hợp giữa âm và dương, cô hồn và người sống có khác gì nhau. Những hồi ký những hoài niệm móc lên bia đá, ngôi cổ mộ. Dương Alpha làm chứng có con mương chỗ nầy nhưng "con mương cầu Trạm nay đã lấp". Dĩ nhiên phải kể những công trình nghiên cứu về sông nước Ninh Hòa, những di tích lịch sử. Và ta cũng không nên quên chuyện ngôn ngữ địa phương, những món ăn địa phương, những công nghiệp tại gia.


Thật ra danh từ sử tính không đến nỗi quá tải. Những biến cố dồn dập của nước ta, cọng với những khuynh hướng kinh tế toàn cầu đang và sẽ hay đổi khuôn mặt nước nhà với hàng ngàn con mương Cầu Trạm sẽ lấp. Ghi ký hành trình về thăm quê của Nguyễn Thanh Ty với những thay đổi như mất nguyên một làng chài nhưng nó sẽ trở nên chuyện rất nhỏ trong dự phóng chiều hướng khai thác thương mãi vô tội vạ, biến những cảnh đẹp thành nơi ăn chơi vì giá ăn chơi ở Thái Lan đã quá cao.


Du Sơn Lãng Tử nhà ta dịch thơ Hán Việt của Nguyễn Du mà quá đúng với ngày nay:


Lâu đài đập phá thành quan lộ


Đô thị xây lên lấp điện rồng.


Mà những thay đổi bên ngoài đó kéo theo sự thay đổi trong đời sống gia đình, tình nghĩa vợ chồng, trong tương tác người với người... Việc xẩy ra hôm nay không đơn thuần xuất phát hôm nay mà là kết quả của một diễn trình tinh tế, trùng trùng duyên khởi. Nhưng điểm chính vẫn là sự thay đổi bậc thang giá trị hơn nửa thế kỷ nay. Kinh nghiệm tâm linh không còn nằm trong hệ thống qui chuẩn ấy nữa tuy rằng điều nầy đã được minh chứng trong lịch sử nhân loại như một ước vọng - và khả năng thực hiện - cõi thiện tuyệt đối, qua một ý thức tôn giáo siêu nhiên và sự hành đạo. Tác giả Phạm Xuân Đài viết: "Các lý thuyết chính trị, xã hội, triết học (kể cả môn đạo đức học) dù có khát khao cũng không làm điều đó được, tức làm tự thân con người vươn cao một cách tự giác vì chỉ đụng đến vùng lý trí chứ không phải vùng tâm linh của con người. Lý trí chỉ biếu cho con người sự hợp lý để phục vụ đời sống, trong khi thể hiện tâm linh giúp cho con người bay bổng, như sự khác nhau giữa một bài luận chứng kinh tế và một bài thơ. Tôn giáo là cái cửa mở lên trời của ngôi nhà nhân loại. Nhờ cái cửa ấy ánh sáng nội tại trong con người được khêu lên làm rực rỡ ngôi nhà của mình".*


Nếu những thay đổi bên ngoài cho phù hợp hoàn cảnh mới mà vẫn giữ nền tảng đạo lý căn bản, chúng ta không nên quan ngại. Nhưng chẳng may nền tảng ấy không còn được tôn trọng. Điều đó giải thích tất cả những bất thường, những quái thai trong mọi lảnh vực mọi cơ cấu mọi cấp, mọi ngõ ngách.


Sự vắng bóng một nền nhân bản là sự tự sát chung, sự diệt chủng mà Lương Lệ Huyền Chyêu có ý quan ngại. Thật vậy nếu mọi người không được định hướng và huân tập, cơ vật sẽ sinh ra cơ tâm (vật chất sẽ tạo ra con tim máy móc). Như đem thi ca kêu gọi giết người, ca ngợi máu. Môn khảo cổ đã nêu ra trường hợp nhiều nền văn minh tiến bộ đã diệt chủng vì quá tàn bạo, giết nhau miên mãi. Môn tiền sử học cho rằng loài khổng long đã ăn thịt nhau mà mất đất. Dân tộc Khmer sẽ còn gì nếu có thêm vài Pol Pot?


Để thoát khỏi bi quan, hy vọng các bạn chia sẻ với Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa quan điểm sau đây


Nhiều thứ có thể đổi thay theo thời gian và xã hội hôm nay. Cạnh nó còn có những giá trị bất biến...Hòn sỏi đã chìm vào sông sâu và nằm lại ở đó, chỉ có những vòng sóng ở bề mặt lan ra và tan biến.


Hòn sỏi chìm sâu đó có sức nặng rì kéo những sợi dây làm giềng mối cho thiên nhiên, lòng mẹ, lòng người, tình thầy cô trước những lớp sóng phi nhân tính. Bốn giá trị nêu trên trong thế vận hành nuôi dưỡng nhau. Tôn giáo cho ta khả năng phân biệt thiện ác, xấu tốt, cho ta sự trong sáng tâm linh để nhìn cuộc đời, lịch sử ngắn dài một cách chân phương xa rời những cảm tính (che khuất bởi tham sân si). Từ đó ta có nền giáo dục thực sự khai phóng. Rồi giáo dục sẽ hung đúc sự hướng về siêu nhiên....


Và những thân hữu Ninh Hòa sẽ tiếp tục con đường đã đi, mở thêm những phương hướng mới. Các bạn sẽ mở rộng thêm "biên giới mềm" của Ninh Hòa. (Biên giới mềm chỉ là bình mới rượu cũ để chỉ ảnh hưởng rộng lớn của một quốc gia tuy diện tích thực sự rất nhỏ như Do Thái, Anh Quốc). Biết đâu một ngày gần đây, trang web nầy sẽ thành một nơi hội tụ những tư tưởng kiểu một "think tank", một đầu cầu phát triển cho Khánh Hòa, vùng phụ cận và cả VN. Trời sẽ không phụ kẻ có lòng.


Phần tôi, tôi là một dòng sông cạn


Trong ngõ cụt tôi mất dòng hứng khởi


mất đã lâu từ ngày em xa biệt


trong ngõ cụt tôi mất triệu ý thơ


và mưa nắng hằn lên đường sinh tử.*


Tôi chỉ có những cảm thức rất tầm thường như những cảm thức trong đời sống hằng ngày dành cho những sự việc bâng quơ. Nhưng khi viết những dòng nầy tôi thêm hai chữ để có cái nhan đề: Cảm thức vô biên dành cho Ninh Hòa. Tôi nuôi dưỡng một cảm thức tràn bờ, khỏi những điều đã đọc, khỏi những hình ảnh nhân thể trên màn ảnh, đến những gì chưa được nói ra, hay đã nói ra mà không được ghi lại. Như trong hình ảnh cổ điển tây phương, tiếng cành khô ngã xuống trong rừng sâu, không ai nghe, nó có hiện diện hay không. Tôi muốn dành cảm thức cho Ninh Hòa, không riêng gì cho ninh-hoa.com.


Tôi vẫn thương mến một Độ Ngạn đi tìm màu sắc của nhớ, mất hút trong nỗi nhớ ngang trời, song song với lời ca ngợi khúc luân vũ khỏa lấp cái hổn mang nơi cao nguyên hoang sơ trong cố gắng của một nhà giáo trẻ. Tôi vẫn ngồi trên chiếc xe ngựa lung linh, chiếc xe ngựa từ Thành Diên Khánh chở cả hoa xuân và hoa lòng của Đào thị Thanh Tuyền vào những năm quê nhà thanh bình tương đối và ngắn ngủi trước khi trầm mình vào một đêm dài, một đêm đen. Tôi cũng chia sẻ với Vũ Ca sự lo âu vịnh Nha Trang sẽ trống không, trống rỗng, chỉ còn là khối nước mặn với những phế thải của con người.


Tôi muốn đem cảm thức đến những người dấu kín tư duy, thiếp đi, lạnh người đi, với những mối sầu không để lộ trước cảnh bể dâu ngang ngược phi luân. Tôi đưa cảm thức ấy đến những ai mất khả năng biểu lộ tâm tình bằng ngôn ngữ vì thiếu cơ duyên vì bất túc thân thể; đến những người không thể hòa nhập với đời sống mới, chênh vênh như con cá trên đất khô. Tôi thương mến một ai không tiền mua rượu phải đi quanh Xóm Bánh ngửi mùi hèm phơi bánh như có kẻ không tiền ra chợ lấy vỏ trái sầu riêng đem về nhà ngửi cho thơm đỡ ghiền.


Xin cảm ơn các văn hữu, các thân quyến của gia đình Ninh Hòa cơ hội bày tỏ cảm thức vô biên dành cho tất cả: những ai những gì đã thấy, những ai những gì chưa thấy. Những lời uất nghẹn, những phẩn nộ dưới cái tĩnh nhiên của quân tử khi mất cánh đồng xanh, những thiện niệm cho đồng loại, những khát vọng thầm kín như tiếng cành cây khô trong rừng tiếp nhận bởi loài vô tình. Mong cảm thức vô biên của tôi đến tận đó; kèm theo một mong ước rất người: uống chén rượu không men nơi Xóm Rượu. Không phải là ly bôi mà Đường Du Hạo chưa từng uống trước khi ly biệt. Mà là một hợp bôi trong ngàn triệu kiếp luân hồi sinh tử quyến vấng vào một góc trời mà ngôn ngữ của loài hữu tình gọi là Ninh Hòa, nơi có Sông Dinh, có Chợ Dinh, có tiếng guốc gỗ khua buồn trưa nắng, có những giọt mồ hôi mướt tóc mây.-


Georgia USA, tháng bảy 2009


Tôn Thất Tuệ


Ghi chú:* Trừ ba trường hợp Phạm Thiên Thư, Phạm Xuân Đài và tác giả, các lời trích đều lấy từ ninh-hoa.com


2010-02-18 18:59:01



Rating: 2.1/5 (7 votes cast)

[1]

  • Xin lưu ý: Là một diễn đàn tự do, quanvan.net không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ độc giả. Những ý kiến đóng góp có những lời lẽ không hay sẽ bị BBT xoákhoá IP vĩnh viễn. (khi bị khoá IP bạn sẽ không thể vô được quanvan.net nữa.)



Âm nhạc Bút ký Biên khảo Chuyện phiếm English Française Học làm người Hồi ký Huyền bí Kịch bản Kiếm hiệp Nhận định Pháp luật Phê bình Phỏng vấn Phiếm luận Quê hương Sức khoẻ Song ngữ Tài liệu Tùy bút Tạp ghi Tạp luận Tạp văn Tản mạn Tản văn Tập truyện Tự truyện Thương tiếc Tiểu sử Trang VĂN NGHỆ Triết học Truyện dài Truyện dịch Truyện ngắn Truyện vui Điểm nóng

 Gánh Đời Nghiệt Ngã Giữa Hai Lằn Đạn - Ái Ưu Du
 NGÀY 30 THÁNG TƯ - NỖI ĐAU KHÔNG TAN - James Dieu
  -
 BÍ QUYẾT BỎ THUỐC LÁ - Bs. Nguyễn Văn Đức
 MỘT GƯƠNG SÁNG CHO NHỮNG AI MUỐN TRỞ THÀNH LÃNH TỤ - Hồng Lĩnh
 Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử - Sinh Vi Tướng Tử Vi Thành - Ái Ưu Du
 Cảm nghĩ về hồi ký Kháng Chiến "Hành Trình Người Đi Cứu Nước" của cựu Kháng Chiến Quân Phạm-Hoàng-Tùng - Điệp Mỹ Linh
 ĐÔI DÒNG NHÌN LẠI Tổng Thống Việt nam Cộng hòa Ngô đình Diệm - Quỳnh Hương
 QUÁ KHỨ VÀ HẬN THÙ - Phạm Bá Hoa
 Ra Đi – Tàu Việt Nam Thương Tín - NgọHằng3D


 Năm Cam - canh bạc cuối cùng! - Thanh Trì
 Bức màn bauxite và âm mưu Tây Nguyên - Nhiều tác giả
 Những trận đánh lịch sử - Nhiều tác giả
 MẬU THÂN 1968 VÀ CUỘC THẢM SÁT TẠI HUẾ - Nhiều tác giả
 ĐÔI DÒNG NHÌN LẠI Tổng Thống Việt nam Cộng hòa Ngô đình Diệm - Quỳnh Hương
 Gánh Đời Nghiệt Ngã Giữa Hai Lằn Đạn - Ái Ưu Du
 Cuộc Chiến Chưa Tàn - Trần Nhật Kim
 Bạch Hổ Tinh Quân - Ưu Đàm Hoa
 Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi - Hoành Linh Đỗ Mậu
 Đơn Kiếm Diệt Quần Ma - Từ Khánh Vân



trang chính    100 tác phẩm mới 



Thực hiện:  
Bùi Ngọc Tô, Huệ Thu, Tuấn Nguyễn, Phương Nguyễn, Tú Phương, Tâm Thơ, Long Nguyễn, Đăng Lê, Trần Thanh, Ngô Nguyễn Trần
(Hoa Kỳ - Pháp - Đức - Áo - Úc - Hoà Lan - Việt nam)