2. 2
Vụ án 1 : Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt.
- Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thưở nào ra.
Vừa nhìn thấy vợ bê một chậu quần áo ra dây phơi, Vinh Tồ lên tiếng trêu ghẹo.
Chị Nhân Dân quay lại nhìn thấy cu Tí đang ngồi trong lòng bố liền lườm yêu, rồi đáp trả lại :
- Cu Tí có biết ngày xưa mẹ là cô thôn nữ xinh đẹp nghiêng nước nghiêng thành khiến cho bao nhiêu anh hùng mặc khách xin “chết” đó không?
- Mẹ cu Tí nói phét quá. Nếu không có bậc chính nhân quân tử tốt bụng như bố chiếu cố bấng đi thì ai kia đã trở thành quả bom nổ chậm rồi.
- Cu Tí có biết ngày xưa ai đã xin tình nguyện được làm vệ sĩ như vệ tinh suốt ngày bám lấy mẹ không?
Người chồng cũng không vừa, anh ta nâng cao đứa bé lên và cất giọng lí sự lại :
- Đó là vì bố lo lắng cho mẹ chân yếu tay mềm sợ bị người khác bắt nạt nên mới âm thầm bảo vệ thôi.
- Chứ không phải bố nó sợ có đối thủ cạnh tranh sao?
- Ha! Ha! Bố cu Tí là chàng trai đào hoa nhất vùng chỉ thích đánh đồn có địch thôi.
- Ghớm! Anh với cái nhà anh Trọng suốt ngày kèn cựa nhau; hai người đâu mà lì lợm thế không biết, bám lấy người ta dai như đỉa ấy, không những tranh nhau đến sớm mà còn tranh nhau về muộn.
- Có phải cái anh Trọng là bạn học tiểu học của em không?
- Vâng! Là anh bạn, em đã từng kể cho anh đó.
- Hồi tiểu học anh ta từng tặng em một gói kẹo.
- Đúng rồi đó. Sao anh nhớ kỹ thế?
- Và mấy tháng sau đó anh ta đã nhất quyết đòi em phải trả lại cho bằng được.
- Vâng! Lúc đó anh ấy đang giận em. Chuyện trẻ con mà.
- Rồi cách đây mấy năm trước, trong một lần anh với anh ta cùng tới cưa cẩm em, em đã đùa vui và nhắc lại chuyện cũ đó.
- Hình như em đã nói rằng : “tớ đã trả gói kẹo cho cậu rồi. Sao cậu vẫn cứ bám theo tớ đòi mãi vậy?”.
- Ha! Ha! Ha! Nhờ có câu nói đó của em, anh đã chiến thắng trong vòng đua nước rút.
- Đó là công lao em muốn đền đáp cho tấm lòng chân thành yêu em hết mực và lời hứa nhất định sẽ ở rể của anh.
- Kết quả là mới có cu Tí này đây – anh ta vừa nói vừa tiếp tục sốc nách đứa bé và nâng nó lên.
Thằng bé thấy bố mẹ cười nói vui đùa cũng mở miệng cười toe toét như muốn chia sẻ phút giây hạnh phúc ngất ngây ấy.
Bố mẹ chị Nhân Dân mất sớm nên chị và đứa em trai phải đùm bọc lấy nhau, cho nên chị không thể đi làm dâu nơi đất khách quê người như bao nhiêu người phụ nữ khác bởi vì chị muốn ở lại nhà chăm sóc và lo lắng cho em trai cho tới ngày “dựng vợ gã chồng” cho nó. Nhờ đoán được tâm lý đó của chị, Vinh Tồ đã phải chịu hi sinh là ở rể để đánh bại các ứng cử viên nặng ký khác cũng đang đêm ngày theo đuổi chị.
Tuy anh ta đã quyết định ở rể nhưng trong thâm tâm của bất kỳ người đàn ông nào cũng muốn vợ mình đã xuất giá thì phải tòng phu. Ngày tháng thoi đưa, khi công việc thường nhật ngày càng trở nên chiếm một vị trí quan trọng trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình và quy luật mài mòn cảm xúc khắc nghiệt cũng ngày càng tác động mạnh mẽ lên mối quan hệ vợ chồng của họ hơn thì bao nhiêu mộng ước cao quý ban đầu đã dần dần bị thay thế bằng tính vị kỷ của một đấng mày râu phải “đi ăn mày vợ”; và nhất là khi có đứa con đầu lòng ra đời càng thôi thúc anh ta muốn đưa vợ về bên nội sinh sống.
Em trai của chị Nhân Dân là một kẻ siêng ăn nhác làm, giữa anh rể và em vợ thỉnh thoảng lại xảy ra mâu thuẫn, thậm chí xung đột với nhau. Vì có chị đứng giữa giàn xếp nên giữa hai người bọn họ chưa xảy ra một vụ xung đột nghiêm trọng nào.
Chuyện gì đến cũng phải đến. Một hôm, đứa con trai bị sốt nặng phải vào bệnh viện nằm điều trị và chị phải vào đó túc trực để chăm sóc cục cưng bé bỏng. ở nhà, một lần nữa hai người bọn họ lại xung đột với nhau.
Anh rể nói :
- Mày không chịu lo lắng làm ăn. Tao sẽ đưa chị về bên nội của cu Tí đó.
Em vợ vùng vằng cãi lại :
- Anh không phải dọa. Anh đi. Tôi càng sướng, đỡ phải suốt ngày nghe loại ca nhạc rẻ tiền.
Anh rể nóng mặt quát :
- Mày không những siêng ăn nhác làm mà còn hỗn láo nữa.
Em vợ sừng sộ đáp trả :
- Ông là cái thá gì mà đòi dạy đời tôi. Thường ngày tôi nể chị tôi nên tôi mới nhường nhịn. Ông đừng có được đằng chân lân đằng đầu.
- Mày! Mày!...
Em vợ mỉa mai :
- Sao làm một thằng phải ở nhờ nhà vợ cảm thấy nhục nhã quá nên không nói thành lời được nữa à?
Như giọt nước tràn ly. Người anh rể lao về phía em vợ và vung cái chày đang cầm trong tay lên, rồi lập tức bổ mạnh ngay xuống đầu nó nhằm trút bỏ mọi uất ức bị dồn nén trong lòng bấy lâu này.
Anh ta thét lên :
- Cho mày chết này.
- á..á…
Kết quả là người em vợ ôm đầu rồi gục ngã. Trước khi mắt nó nhắm lại thì nó chỉ kịp rú lên những tiếng nghe kinh hồn rùng rợn.
**
*
Hơn một tuần sau.
Vào một đêm khuya, Đức Minh đang đi dạo bộ một mình ở quảng trường Lam Sơn.
Quảng trường Lam Sơn rộng mênh mông, lồng lộng gió và đèn điện sáng choang, bầu không khí vô cùng yên tĩnh và dường như không có một bóng người. Anh bước từng bước chậm dãi và miệng không ngớt sướng lên những câu thơ tình lãng mạn :
Sao em còn đứng đó
Khiến lòng tôi thẫn thờ
Đôi mắt giả thờ ơ
Khiến tình ta tan vỡ.
Sao em còn…
Những câu thơ đang tuôn chảy dồn dập bỗng tắt lịm. Từ đằng sau rặng tre xanh ngắt với những thân cây mảnh mai được bao bọc bởi tua tủa những chiếc lá nhọn hoắt như hàng trăm hàng ngàn ngọn giáo ngọn mác, Đức Minh thấy ba tên đàn ông đang quây tròn lấy một cô gái. Tên nào tên nấy trố mắt háo hức nhìn khắp thân thể “con mồi”.
Một tên trong bọn chúng tiến sát tới cô gái, hắn hỏi :
- Cô em đi đâu? Sao lại lượn lờ lúc đêm khuya thanh vắng thế này? Có muốn đi chơi với bọn anh không? – vừa nói hắn vừa giơ bàn tay xương xẩu ra hòng vuốt má cô gái.
Trong khi đấy, cô gái không hề tỏ ra một chút sợ hãi, không bỏ chạy, không kêu la, không xin xỏ. Cô nhìn trừng trừng vào mắt hắn, không nói không rằng, cô vung cánh tay lên để gạt bàn tay ghớm ghiếc của hắn và đồng thời phóng ngay ra một chưởng bằng chính cánh tay đó vào thẳng cằm của đối phương.
Tên kia bị dính đòn đau, bật lùi ra sau, suýt tí nữa thì té lăn ngã ngửa. Máu từ lưỡi hắn phun ra, hắn vội đưa tay lên ôm lấy miệng và bóp chặt. Cơn đau đớn làm cho hắn hầm hầm nổi giận. Hắn mím chặt đôi môi, đôi mắt đỏ ngầu hướng chằm chằm về phía đối thủ. Sau đó, hắn rút dao găm ra, rồi vừa lao về phía đối phương vừa thét lên một cách căm hờn :
- Con oắt kia! Mày dám làm ông cắn phải lưỡi. Ông sẽ cho mày biết tay.
Hắn vung dao găm lên và bổ mạnh xuống người đối phương. Cô gái liền giơ tay trái lên đỡ, đồng thời đặt tay phải lên trên cườm tay của hắn và kết hợp với tay kia bẻ ngoặt tay của đối thủ ra sau làm cho hắn khuỵu xuống, rồi cô vừa lên gối vừa hét :
- Cho mày “phăng teo” nè.
Tên kia lãnh trọn đầu gối vào mặt, chỉ kịp rú lên một tiếng “hự” rồi lăn quay ra đất.
Cô gái ra tay thật mau lẹ, Đức Minh tỏ ra khâm phục vô cùng.
Một tên khác lớn giọng nói :
- Cô bé đánh đấm hay lắm.
Cô gái hất hàm nhìn nó, rồi nói :
- Nếu ngươi không muốn bị ăn đòn thì đừng có dại mà đụng vào bản cô nương.
Nó cật giọng cười rất khả ố :
- Hả! Hả! Hả! – và nói – cô bé làm cho anh nóng ran khắp người rồi đó.
- Ngươi! Ngươi!...
- Nhưng trước hết anh phải dạy cho cô bế biết thế nào là lễ độ đã - nói xong, nó liền lướt tới và liên tiếp tung ra những đòn đấm thẳng liên hoàn buộc cô gái phải không ngừng thối lui.
Chỉ chờ có thế, nó cúi mình xuống, tung ra đòn quét hất cô gái ngã ngửa. Nó ngạo nghễ nói :
- Ha! Ha! Nhìn cô bé nằm ngửa thật là đẹp biết bao.
Thấy võ nghệ của đối phương cao cường hơn mình nên cô gái vội dáo dác ngó nhìn xung quanh xem có ai không để kêu cứu.
Tên kia chìa bàn tay ra và nói :
- Nào! Mau nắm lấy tay anh, anh sẽ kéo cô bé đứng dậy. Sao lại nằm Ngửa ra đó ăn vạ thế?
Biết đây là cơ may hiếm có, cô gái liền tương kế tựu kế bằng cách giả vờ nắm lấy tay nó và giật mạnh, đồng thời đưa chân lên đá thốc vào bụng đối thủ. Nó há hốc mồm, đau đớn đến mức độ không thể thốt lên thành lời, cả thân người nó bật lùi ra đằng sau và té nhào.
Thấy cô gái ra tay rất mạnh mẽ, toàn sử dụng những miếng đòn sát thủ, Đức Minh cảm thấy xót thương cho tên kia chỉ vì một chút chủ quan mà phải dính đòn đau nhớ đời.
Kẻ còn lại thấy hai tên đồng bọn bị hạ gục một cách quá nhanh chóng và rất đau đớn. Gã vừa tỏ ra kinh ngạc vừa hết sức tức giận. Gã gằn giọng nói :
- Ranh con khá lắm!
Cô gái đã đứng dậy, đưa hai tay lên vuốt tóc, rồi nói :
- Nếu ngươi đã biết sợ bản cô nương thì mau mau đưa hai tên đồng bọn kém cỏi kia biến đi.
- Ha! Ha! Ha! Đúng là ngựa non háu đá. Mày chỉ giỏi cắn trộm chứ biết đánh đấm gì.
- Được lắm! Nếu ngươi muốn lê lết thì hãy nhảy vào kiếm ăn.
Đức Minh cảm thấy cô gái này thật quá bạo dạn và rất dũng cảm, hơn hẳn những gã đàn ông “mặc váy”. Lại quay sang nhìn đối thủ cuối cùng của cô gái, gã là một gã đàn ông cao to lực lưỡng, anh cảm thấy hơi lo lắng cho nữ anh hùng.
Trong khi đó tên côn đồ kia muốn giải quyết nhanh gọn đối phương nên gã quyết định dùng một miếng võ hiểm hóc. Gã lao vào đối thủ, tung ra đòn “mậu cước”. Lập tức, cô gái liền đưa hai tay lên đỡ. Gã vừa tung người lên trên không vừa quay tay vung một đòn đấm móc xuống vào giữa mặt đối phương. Cô gái lãnh trọn cú đấm sấm sét, cả bầu trời bỗng trở nên tối sầm trước mặt, cô bị bật ra xa và đưa hai tay lên ôm lấy mắt trái.
Thấy đối thủ bị dính đòn đau, gã vẫn quyết không nương tay, gã nhảy lên song phi lao vào đối phương hòng quyết tâm hạ gục đối thủ. Đúng lúc đó, Đức Minh cũng song phi lao tới đạp cho gã ngã lộn nhào.
Gã không ngờ bị kỳ đà cản mũi, lồm cồm bò dậy, rồi giận dữ nói :
- Hừ! Lại thêm một con chó thích cắn trộm.
- Ha! Ha! Ha! Làm sao nhục bằng ba tên đàn ông bắt nạt một cô gái chân yếu tay mềm.
- Mày! Mày…
Anh không thèm để ý tới sự khó xử của đối phương, anh quay về phía cô gái và cất giọng đùa vui :
- Nhưng cô nương này đâu có như nữ nhi thường tình.
Mặc dù đang rất đau đớn, nhưng thấy bị người ta trêu chọc, cô quên hết cả đớn đau, hùng hùng hổ hổ đáp trả :
- Anh có giỏi hãy đánh gục tên côn đồ kia đi, đừng có để tôi phải rìu anh về nhà đấy.
Đức Minh không ngờ cô gái ấy lại ghê ghớm đến thế nên không còn dám lên tiếng trêu chọc nữa. Ngay lúc đó, tên côn đồ kia tung một cước ro-co phóng tới. Nhanh như cắt, anh hất chân lên theo kiểu nam phái thiếu lâm để phản công lại. Kết quả là y bị dính đòn đau phải vừa nhảy cò cò vừa ôm lấy bộ hạ, được một lúc sau là y đổ kềnh ra đất mà vẫn không thể rú lên một tiếng nào.
Anh biết rất rõ đòn ro-co của dân karatedo có yếu điểm là hở bộ hạ, vì dân karatedo không thủ hạ bộ nên anh chỉ cần tung ra một đòn đá là đối phương hết cựa quậy.
Thấy đồng bọn gục ngã như một tên hề, hai tên kia lê lết bước tới hỏi han, y thều thào nói :
- N..ó n..ó đá suýt trúng bộ hạ. Ma..u mau rút đi thôi, chớ có dây dưa vào mấy cao thủ đó.
Nhìn ba tên côn đồ lê lết kéo nhau bước đi một cách thảm hại, Đức Minh cùng cô gái kia không thể nào nhịn cười nổi.
Anh tiến lại gần cô gái, anh chợt lặng người và đờ đẩn trước sắc đẹp mê hồn của cô nàng. Nàng có thân hình cao ráo vừa mảnh mai vừa rắn chắc trông nàng thật quyến rũ với một khuôn mặt xinh xắn như tiên nữ và mái tóc dài đen mượt như gỗ mun. Đôi mắt của anh như dính vào người cô gái làm cho cô cảm thấy hơi khó chịu, nàng lên tiếng trách :
- Không phải anh cũng là một phường háo sắc như bọn chúng đó chứ?
Nghe cô gái trách, anh giật mình tỉnh táo trở lại. Anh bẽn lẽn nói :
- Xin lỗi! Xin lỗi cô! Cô có bị làm sao không?
Cô gái hờn dỗi đáp :
- Sao sao với trăng gì! Anh anh không thấy mắt tôi sưng vù lên đây nè?
Đức Minh nhanh ý rút ngay ra chiếc khăn mùi xoa mới tinh và nhanh nhẹn thấm nước lạnh, rồi đưa cho cô gái và ngập ngừng nói :
- Cô cô cầm lấy cái này chườm chườm vào mắt cho đỡ đau.
Cô gái vừa cầm lấy chiếc khăn vừa mắng yêu :
- Sao đứng trước tên côn đồ lúc nãy anh bản lĩnh thế, còn đứng trước tôi lại tỏ ra run sợ thế kia, tôi đâu có phải là sư tử Hà Đông.
Đức Minh nghĩ thầm : “ừ! Không phải là sư tử Hà Đông, chỉ là sư tử cái thôi”. Anh đáp lại :
- Không! Không phải thế! Cô đã cảm thấy đỡ đau chưa?
- Cám ơn anh! Có gì đâu! Đấy chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ đối với con nhà võ. Xin hỏi anh tên gì?
- Tôi là Đức Minh, còn cô?
Cô gái ngỡ ngàng hỏi lại :
- Em là Chung Thủy. Anh có có phải là thám tử tài hoa Đức Minh lừng danh đó không?
Đức Minh trả lời :
- Đúng! Tôi là thám tử, nhưng tài hoa thì không.
- Em, em đã được nghe nhiều về những chiến công của anh qua báo chí. Họ nói anh tài làm thơ, giỏi lí luận và rất khéo hài hước – nàng nhìn chàng bằng một ánh mắt rất trìu mến.
- Họ! Họ nói quá đấy!
- Anh thường hay mang ớt bột theo người à?
- Không! Sao Chung Thủy lại hỏi thế?
- Vì em thấy báo chí nói : “anh hay thích rắc ớt vào người khác”.
Đức Minh cảm thấy cô gái này thật thú vị, lúc thì rất dũng mãnh, lúc thì lại ngây ngô như trẻ con. Không thấy anh trả lời, Chung Thủy giục :
- Sao anh không nói?
- à! ý họ muốn nói : “anh là người khó tính đấy”.
- Thật sao! Em không tin. Em thấy anh rất nghĩa hiệp và vui tính, không những giỏi võ nghệ mà còn rấ..t rất đẹp trai nữa.
Câu nói vừa thốt ra, Chung Thủy đỏ mặt liếc nhìn Đức Minh. ánh mắt hai người bắt gặp nhau, rồi cả hai cùng nhìn lảng đi và ngượng ngập.
Sau một phút cảm thấy hơi bối rối, anh ân cần đề nghị :
- Cho phép Đức Minh đưa Chung Thủy về nhà nhé?
- Ok! Nhưng em nói trước, từ đây đi bộ về nhà em hơn một cây số đấy.
Đức Minh lấy hết sức mạnh dạn đáp lại :
- Được tháp tùng một tiên nữ như em đi khắp cùng trời cuối đất anh cũng vui lòng.
Chung Thủy bẽn lẽn hỏi lại :
- Thật! Có thật không anh?
Họ lại liếc nhìn nhau, lại lảng tránh, lại ngượng ngùng và câu hỏi đó trôi tuột vào hư không vì không có lời giải đáp trong sự im lặng giữa hai người.
Thành phố Thanh Hóa về đêm rất mơ mộng dưới ánh đèn điện cao áp sáng choang. Hai bên đường là hai hàng cây xanh có hoa nở bốn mùa với đủ sắc màu như màu tím của hoa bằng lăng, màu đỏ của hoa phượng vĩ hay màu trắng của hoa sữa. Đường xá rộng rãi và bóng lộn, phố phường yên bình được trang hoàng bởi vô số nhà cao tầng với đủ loại hình kiến trúc. Họ cứ thế sóng đôi nhau bước đi một cách lặng lẽ dưới bầu trời đầy sao lấp lánh. Đức Minh quyết định lên tiếng phá vỡ bầu không khí yên ắng, anh hỏi :
- Em thường hay đi dạo vào đêm khuya phải không?
- Phải! Anh thấy đó, đêm khuya rất thanh bình, rất đẹp phải không?
- Không phải em thích đi dạo vào đêm khuya chỉ để ngắm cảnh phố phường đang say giấc ngủ đó chứ?
Chung Thủy giật mình trước câu hỏi đó như thể chàng đã đi gót trọng bụng mình. Nàng tinh nghịch đưa tay phải ra và gồng lên tỏ vẻ như một lực sĩ và nói :
- Với một cô gái, mình đầy võ nghệ như em thì sợ gì bị côn đồ bắt nạt.
Biết nàng tìm cách đánh trống lãng, anh dồn hỏi tiếp :
- Không phải em muốn có cơ hội được gặp một chàng hoàng tử khôi ngô tuấn tú ra tay nghĩa hiệp cứu thoát mỹ nhân khỏi bàn tay của lũ du côn à?
Chung Thủy bẽn lẽn trả lời :
- Sao sao anh biết rõ thế?
- Có gì đâu! Anh lấy bụng ta suy ra bụng người thôi. Anh cũng thường hay đi dạo vào đêm khuya để chờ cơ hội được ra tay cứu thoát mỹ nhân khỏi vòng nguy hiểm mà.
- Anh anh chỉ được cái giỏi nói xạo!
- Anh! Anh nói thật đó.
- Thế hôm nay anh đã được mãn nguyện chưa?
- Cái đó thì phải hỏi em chứ.
Chung Thủy giả vờ giãy nãy :
- Cái cái anh này chỉ giỏi trêu ghẹo người ta.
Đức Minh im lặng, Chung Thủy rụt rè hỏi :
- Làm, làm sao anh đoán ra được ý đồ của em vậy?
Đức Minh chậm rãi giải thích :
- Một cô gái có đôi chân dài thon thả như em, một khi đi dạo bộ thường hay diện váy. Nhưng em lại mặc quần thể thao và đi một mình trong đêm khuya thanh vắng thế này không nhằm “âm mưu” cướp linh hồn một chàng hoàng tử nghĩa hiệp nào đó thì để làm gì khác cơ chứ?
- Cái cái anh này chỉ được cái nói đúng không ai bằng.
Đức Minh thấy người đẹp khen mình liền huyênh hoang :
- Anh là thám tử mà lị.
Chung Thủy đáp trả :
- Và anh còn rất lẻo mép nữa, không biết đã có biết bao nhiêu cô gái rơi rụng trái tim non nớt trước sự tài hoa của anh?
Bị nàng “chơi” khó, Đức Minh lí nhí đáp :
- Làm làm làm gì có. Nói nói thế là oan cho anh.
Chung Thủy được đà, vừa cười hả hê vừa bắt bí :
- Oan! Oan nỗi oan Thị Mầu.
Đức Minh hoàn toàn bị lép vế nên đành phải im lặng chịu trận.
Chung thủy lên tiếng :
- Sắp tới nhà em rồi đó.
Đức Minh quay sang nhìn nàng rồi hỏi :
- Chắc em chẳng bao giờ mặc váy đâu nhỉ?
Chung Thủy ngập ngừng hỏi lại :
- Thế thế anh thích những cô gái mặc váy à?
- Anh rất thích những cô gái có tính hành động, trông họ rất hấp dẫn; nhưng anh cũng thích họ mặc váy mỗi khi đi chơi với anh để thể hiện tính nữ nhi, có như thế mới toát lên hết mức quyến rũ.
- Sao sao anh tham lam thế?
Đức Minh không trả lời câu hỏi đó, anh hỏi lại :
- Em thì chẳng bao giờ chịu mặc váy đâu nhỉ?
- Vâng! – nàng trả lời một cách hết sức tự nhiên trước câu hỏi của người khác; vừa nói xong, nàng mới sực ngạc nhiên nên hỏi – Sao anh biết rõ điều đó thế?
Đức Minh dí dỏm nói :
- Một người thích đấm đá như em thì làm sao dám mặc váy chứ.
- Cái cái anh này…
- Cái cái anh này chỉ được cái nói đúng không ai bằng.
Thấy bị Đức Minh trêu ghẹo, nàng ngúng nguẩy nói :
- Không nói chuyện với anh nữa, em vào nhà đây.
Nhìn nàng đi vào nhà, Đức Minh nói với theo :
- Hôm nào mời em tới văn phòng anh chơi.
Chung Thủy quay lại, giả vờ phụng phịu nói :
- Anh là gì của người ta mà đòi mời người ta tới chứ.
Đức Minh chỉ còn biết cười trừ trước câu nói hết sức lém lỉnh của nàng.
**
*
Tại công an huyện Đông Sơn, điều tra viên trẻ Tạc Bình cùng với hai đồng nghiệp mới ra trường đang cười đùa trò chuyện.
Tạc Bình nói :
- Hai cậu về đây công tác sẽ chỉ ngồi chơi xơi nước như tớ suốt mấy năm qua thôi.
Bính Tuất không hiểu nên hỏi lại :
- Anh nói sao? Em không hiểu.
Đinh Hợi phụ họa theo :
- Anh nói thế nào chứ? Làm cái nghề “đầy tớ cho nhân dân” này thì biết đến bao giờ mới sướng được.
Tạc Bình vẫn ngả người lên trên thành ghế, hai chân vắt chéo nhau và đặt lên trên mặt bàn, mặt ngẩng lên trên trần nhà và miệng phì phèo thuốc lá, anh đáp :
- Đúng là làm nghề công an thì chẳng mấy khi được nghỉ ngơi thoải mái. Nhưng công tác ở cái huyện quá bình yên này thì có lẽ cả đời sẽ không bao giờ được nếm trải cái mùi vị án mạng “hấp dẫn”.
Bính Tuất nhanh mồm nhanh miệng hưởng ứng theo :
- Thế thì chán thật! Chúng ta là lính điều tra, không lẽ suốt ngày cứ phải làm mấy cái công việc giữ gìn an ninh trật tự tầm thường.
Đinh Hợi muốn lấy lòng đàn anh nên nói :
- Ước gì bây giờ xảy ra ngay một vụ án mạng để ba anh em chúng mình trổ tài phá án cho thiên hạ lác mắt.
Nghe đến đây, Tạc Bình khoái chí quá nên vừa cất tiếng cười “ha hả” vừa vỗ tay đôm đốp vào đùi vừa nói :
- Ha! Ha! Ha! Đúng là chỉ có hai cậu mới có thể hiểu được nỗi buồn sâu thẳm trong tâm hồn tớ suốt mấy năm qua.
Hai đồng chí mới vào nghề cũng cười ngoặt nghẽo theo một cách sung sướng.
Đúng lúc đó đội trưởng đội cảnh sát điều tra tội phạm huyện Đông Sơn bước vào, ông ta lên tiếng nói :
- Riêng tôi, tôi chỉ muốn chúc cho các anh thất nghiệp dài dài để nhân dân được an cư lạc nghiệp.
Tạc Bình cùng với hai cán bộ trẻ vội vàng đứng dậy và vội vã lên tiếng chào :
- Chúng em xin chào sếp!
Đội trưởng đội cảnh sát điều tra tội phạm mỉm cười, rồi nói :
- Xin chào các bạn trẻ! Nghe các bạn trẻ hăng hái làm việc quá mà tôi “phát sợ” đó.
Tạc Bình cùng với hai cán bộ trẻ bẽn lẽn trả lời :
- Thưa sế..p! Chúng em đâu có dám nghĩ như thế.
Đội trưởng đội cảnh sát điều tra tội phạm nghiêm nghị nói :
- Dù ý nghĩ có nguy hiểm đến đâu cũng không thể kết cấu thành tội phạm được, nhưng một khi đã thốt ra thành lời thì có thể được coi là dấu hiệu phạm tội đó.
Tạc Bình cùng với hai cán bộ trẻ ấp úng đáp lại :
- Thưa sế..p! Chúng em biết lỗi rồi ạ! Chúng em xin được đoái công chuộc tội.
- Ha! Ha! Ha! Biết hối lỗi là tốt. Tôi có nhiệm vụ giao cho các bạn đây.
Tạc Bình cùng với hai đồng nghiệp hí hửng hỏi ngay :
- Dạ! Có phải là một vụ án mạng không ạ?
Đội trưởng đội cảnh sát điều tra tội phạm quắc mắt nhìn họ một lượt làm ai nấy như rụng rời cả chân tay. Trông thấy mấy thuộc cấp thu người run sợ trước ánh mắt như có lửa của mình đến là tội nghiệp nên ông ta liền cất tiếng bông đùa :
- May sao những người quá nhiệt tình công tác như các cậu không làm nghề bán quan tài.
Không thấy họ nói gì. Đội trưởng đội cảnh sát điều tra tội phạm nhấn giọng nói tiếp :
- Nhưng lần này tôi lại muốn các bạn trổ tài phá án mạng đây.
Tuy trong lòng Tạc Bình cùng với hai đồng nghiệp cảm thấy sung sướng như phát điên lên nhưng không còn dám thể hiện ra ngoài mặt. Họ dõng dạc lên tiếng :
- Chúng em xin chờ sếp ra lệnh!
- Tốt! Bây giờ tôi giao vụ án mạng này cho Tạc Bình phụ trách. Tạc Bình cùng với Đinh Hợi và Bính Tuất mau mau xuống hiện trường điều tra vụ việc.
- Xin tuân lệnh sếp!
Tại hiện trường vụ án mạng.
Đó là một gò đất hoang nằm ngay sau xã Đông Hòa và cách đường liên xã khoảng hơn một cây số. Gò đất lởm chởm đất đá và mọc toàn cây cỏ dại.
Khi ba điều tra viên tới nơi, các công an xã đã có mặt từ lâu để bảo vệ hiện trường. Trưởng công an xã vồn vã nói :
- Chúng tôi đợi các anh sốt cả ruột. Bây giờ chúng tôi xin giao lại hiện trường cho các anh. Các anh cần hỏi gì, tôi xin thay mặt các anh em ở đây trả lời.
Tạc Bình đề nghị :
- Anh mau đưa chúng tôi tới nơi phát hiện ra tử thi.
Sau khi xem xét tử thi xong. Tạc Bình hỏi :
- Ai là người đã phát hiện ra tử thi.
Trưởng công an xã trả lời :
- Đó là một người đàn ông trung niên ở xã Đông Hòa vào đây tìm hái cây thuốc nam.
Tạc Bình hỏi tiếp :
- Ông ta đâu?
Trưởng công an xã ngó nghiêng xung quanh không thấy liền quay lại nói :
- Để tôi cho người gọi ông ta đến cho anh gặp mặt.
Tạc Bình đáp :
- Thôi! Nếu cần sẽ gọi sau.
- Anh có cần hỏi thêm gì không?
- Có phải khi phát hiện ra tử thi thì cái xác đó nằm trong bao tải và bị ném xuống hố không?
- Đúng đó! Sau đấy tôi đã cho người kéo lên. Chiếc bao tải đó được buộc miệng bằng một sau dây. Chúng tôi chỉ mở mỗi sợi dây ra để kiểm tra xem trong đó có phải là xác người không thôi, còn mọi thứ khác đều được giữ y nguyên để chờ các anh tới xử lý.
- Cám ơn anh! Có gì tôi sẽ hỏi anh sau.
Tạc Bình quay sang hai đồng nghiệp, hỏi :
- Các cậu có ý kiến gì không?
Bính Tuất nói :
- Tử thi là một nam giới. Hung thủ sau khi gây ra án mạng đã trói xác nạn nhân lại và nhét vào bao tải bởi vì có ba sợi dây quấn quanh xác nạn nhân, sau đó mới ném xuống hố.
Đinh Hợi nói :
- Nạn nhân mặc quần soóc và áo phông màu trắng, không thấy giày dép đâu, còn thi thể đã bị phân rã tới mức không thể nhận ra hình dạng.
Tạc Bình hỏi tiếp :
- Cái hố hung thủ ném tử thi xuống là hố hung thủ đào hay là hố tự nhiên?
Bính Tuất trả lời :
- Cái đó em không biết, để em xem xét lại đã.
Tạc Bình cười nói :
- Tôi hỏi thế thôi. Tôi đã biết câu trả lời rồi.
Đinh Hợi nói :
- Nếu anh đã biết rồi thì hỏi bọn em làm gì nữa.
Bính Tuất giục :
- Anh mau mau nói ra đi.
- Đó là một cái hố tự nhiên.
Đinh Hợi hỏi vặn :
- Làm sao anh biết được?
Tạc Bình trả lời :
- Các cậu có thấy ở xung quanh đây có rất nhiều hố như thế không. Thế thì hung thủ cần gì phải đào thêm một cái hố mới phải không?
Tạc Bình nói tiếp :
- Một nhà điều tra không thể chỉ biết nhìn bằng con mắt mà còn phải biết nhìn bằng cái đầu.
Bính Tuất đáp lại :
- Điều đó thì em biết.
- Nghĩa là sao?
- Nghĩa là phải biết nhìn vào cái này và suy luận ra cái khác.
Đinh Hợi nói văn hoa hơn :
- Tức là phải biết kết hợp giữa khả năng quan sát với óc tư duy để có thể từ điều dĩ nhiên nhìn thấy rõ ràng này suy luận ra điều hiển nhiên chưa biết tỏ tường khác.
Tạc Bình tán thành, nói :
- Tốt! Cụ thể?
Bính Tuất trả lời :
- Không thấy giày dép của nạn nhân ở xung quanh đây, chứng tỏ nạn nhân đã bị giết ở nơi khác, bởi vì nạn nhân không thể đi chân đất vào nơi toàn đá giăm và đầy gai nhọn này được.
Đinh Hợi lên tiếng phủ định lại :
- Biết đâu hung thủ sau khi giết nạn nhân ở đây đã giấu giày dép đi để dựng hiện trường giả hòng đánh lạc hướng điều tra.
Bị Đinh Hợi bắt bí, Bính Tuất không biết đối đáp lại làm sao nên lặp bặp nói :
- Cái đó, cái đó…
Tạc Bình liền lên tiếng giải nguy, anh giải thích :
- Chúng ta điều tra phải thông qua các chứng cứ xác thực, tuy nhiên chứng cứ xác thực có thể nằm lẫn lộn với những chứng cứ giả tạo, cho nên một nhà điều tra vừa phải truy tìm chứng cứ xác thực vừa phải truy tìm chứng cứ phi xác thực, trong đó chứng cứ xác thực sẽ cho chúng ta biết những điều hiển nhiên còn chứng cứ phi xác thực sẽ cho chúng ta biết những điều ngụy tạo. Mỗi cách suy luận sẽ cho chúng ta những góc nhìn nhận và cách giải quyết sự việc khác nhau, cho nên chúng ta phải biết loại trừ đi những trường hợp không thể xảy ra, vì chỉ có trường hợp hiển nhiên diễn ra một cách khách quan mới có thể giúp chúng ta truy tìm ra được hung thủ. Một trong những nhiệm vụ trước mắt của chúng ta là phải xác định được chính xác hiện trường gây án có phải là ở đây hay không?
Thấy hai phụ tá trẻ ngơ ngẩn, chứng tỏ không thể hấp thụ nổi một mớ lí thuyết hỗn tạp đó. Tạc Bình liền đưa ra minh chứng :
- Nạn nhân bị giết ở một nơi khác, sau đó hung thủ mới đem giấu xác nạn nhân ra đây. Bởi nếu hung thủ đã giết nạn nhân ở đây thì cần gì phải nhét vào bao tải nữa. Việc hung thủ nhét xác nạn nhân vào bao tải chứng tỏ hung thủ đã giết chết nạn nhân ở một nơi khác và từ nơi đó đi ra đây có thể gặp mặt người khác nên hung thủ phải nhét thi thể nạn nhân vào bì để che đậy. Mặt khác việc hung thủ giết người là hoàn toàn nằm ngoài ý muốn và kẻ sát nhân không hề biết dựng hiện trường giả, vì y đem giấu xác nạn nhân xuống hố nhưng không lấp đất lên.
Đinh Hợi lại hỏi :
- Thế anh giải thích thế nào về việc hung thủ trói xác nạn nhân lại? Phải chăng kẻ sát nhân đã trói nạn nhân lại rồi mới giết.
Tạc Bình trả lời :
- Có thể như thế. Cái đó còn phải chờ đợi bên pháp y cho biết nguyên nhân tử vong đã. Cũng có thể, sau khi giết nạn nhân xong hung thủ mới trói nạn nhân lại để nhét vào bao tải cho dễ dàng hơn. Điều đó cho thấy sau khi giết người không lâu thì y đã trói xác nạn nhân lại và nhét vào bao tải, bởi vì sau sáu tiếng thi thể đông cứng lại sẽ rất khó bỏ vào bao tải.
Nhìn Bính Tuất và Đinh Hợi tỏ vẻ thán phục trước sự phân tích tỉ mỉ của mình. Tạc Bình cảm thấy rất hãnh diễn về tài năng của chính mình. Anh bèn tự thưởng cho bản thân mình một điếu thuốc.
Đinh Hợi thắc mắc :
- Không biết trước khi ông ta nhìn thấy xác chết đó có thấy hiện tượng gì không? Như là có thấy cỏ cây xung quanh bị dẫm đạp lên không?
Tạc Bình nghe thấy thế liền phản ứng lại ngay :
- Cậu điều tra tỉ mỉ thế là tốt, nhưng hỏi gì cũng phải có logic chứ.
Đinh Hợi không hài lòng, nói:
- Em hỏi như thế không đúng sao? Biết đâu hung thủ vừa ném xác nạn nhân ra đây thì ông ta tới.
- Chứ còn gì nữa! Cậu cần phải trải nghiệm thực tế nhiều để gọt dũa bớt kiến thức thừa thải đi.
Thấy hai cán bộ trẻ lúng túng, Tạc Bình giải thích :
- Thi thể nạn nhân bị phân hủy tới mức không thể còn nhận ra hình dạng, điều đó chứng tỏ hung thủ đã quẳng xác nạn nhân ra đây hơn một tuần rồi, hơn một tuần thì cỏ cây đã phải mọc lại bình thường. Như thế còn cần gì phải đi xác minh điều đó nữa, phải không?
Tạc Bình nói tiếp :
- Bây giờ tôi đố hai cậu : “gò đất hoang này có người thường xuyên ra vào hay không”?
Bính Tuất lắp bắp nói :
- Điều đó điều đó em không biết.
Đinh Hợi nhanh nhảu nói :
- Hình như là không anh à!
Tạc Bình không đồng tình, anh nói :
- Đã điều tra là phải có cơ sở, đã buộc tội là phải có bằng chứng. Không được nói năng tùy tiện, sao lại nói : “hình như! Hình như!”?
Đinh Hợi ấp úng trả lời :
- Vì vì em chỉ dựa vào linh cảm thôi.
Tạc Bình lên tiếng chỉ bảo :
- Thừa nhận rằng tình cảm hay giác quan thứ sáu đôi khi có thể hỗ trợ cho sự hạn chế tạm thời của lí trí. Nhưng chúng chỉ là những trạng thái khác nhau của ý thức, đã là ý thức thì không phải là thuộc tính của vật chất mà chỉ là hệ quả của vật chất cho nên dễ dẫn đến nhận định sai lầm về sự vận động khách quan của vật chất. Nói tóm lại : không có một tòa án nào chấp nhận tình cảm hay giác quan thứ sáu làm bằng chứng để phá án.
Đinh Hợi và Bính Tuất lí nhí đáp :
- Chúng em xin ghi nhớ.
Tạc Bình giải thích tiếp :
- Các cậu có thấy gò đất hoang này cây cỏ mọc tùm lum và không có một lối đi rõ rệt nào, đúng không? Điều đó chứng tỏ không có người hay xúc vật thường xuyên đi vào đây, bởi vì một khi đã đi thường xuyên vào đây thì phải thường xuyên dẫm đạp lên cây cỏ và lẽ dĩ nhiên sẽ tạo ra một lối đi rõ rệt.
Trưa hôm đó, ở trước văn phòng Thám Tử Tài Đức có một cô gái diện bộ váy hồng rực rỡ như nàng công chúa yêu kiều bước tới và gõ cửa. Đức Minh đang ngả người trên ghế, quay mặt vào bên trong, đôi mắt lim dim và say sưa tận hưởng những tình khúc nhạc vàng du dương. Nghe tiếng gõ cửa, anh lười tới mức độ không buồn quay lại và ngó xem đó là ai, anh lên tiếng :
- Xin lỗi quý khách! Bây giờ đang là giờ nghỉ trưa?
Cô gái dõng dạc đáp lại :
- Bản cô nương đây!
Đức Minh phản ứng nhanh như điện xẹt, anh sung sướng, hỏi :
- Chung Thủy phải không?
Anh vội vàng mở bừng mắt ra, rồi bật ngay dậy và quay về phía vị khách không mời mà tới. Anh vô cùng sửng sốt trước sự quyến rũ hiếm có của nàng đến mức ngơ ngẩn; dường như sắc đẹp lộng lẫy nghiêng nước nghiêng thành ấy đã đóng băng mất không thời gian xung quanh Đức Minh, khiến cho anh như bị ru vào một giấc mơ thiên thần.
Thấy chàng ngẩn ngơ một cách bất động ngay sau khi trông thấy mình, Chung Thủy vội vàng tiến tới, nàng đưa hai tay lên huơ huơ trước mắt chàng, nàng vồn vã hỏi :
- Đức Minh! Đức Minh! Anh có bị làm sao không đó?
Nghe tiếng nàng gọi, Đức Minh như được đánh thức dậy từ cõi hư vô, lúc này đôi mắt của anh vẫn còn đang dính chặt lấy thân hình nàng mới trở nên có thần sắc, anh ấp úng nói :
- Có phải, có phải nàng là Chung Thủy đó không?
Chung Thủy đoán ngay ra chàng đùa bỡn mình, nàng vừa sà xuống ghế vừa phụng phịu nói :
- Cái cái anh này chỉ giỏi khéo giả vờ. Làm cho người ta sợ hết hồn.
Đức Minh bối rối nói :
- Tại tại vì hôm nay em đẹp đẹp như là một nàng tiên giáng trần vậy.
Chung Thủy khúc khích cười, nàng đáp lại :
- Tiếc quá! Tiếc quá! Em không mang theo tiền lẻ để thưởng cho công lao bẽn mép của anh.
- Anh không cần tiền.
- Thế anh cần gì nào?
- Anh cần, anh chỉ cần...
Đức Minh vừa nói vừa tiến sát lại gần nàng, làm cho trái tim Chung Thủy đập loạn xạ. Nàng giả vờ khép hai mi mắt lại rồi nhẹ nhàng nín thở và chờ đợi chàng sẽ ôm trọn lấy thân hình mình trong vòng tay rắn chắc của chàng. Không ngờ, chàng ghé sát vào tai nàng rồi lên giọng nói :
- … em trả lại cho anh chiếc khăn mùi soa.
Bị chàng cho ăn “dưa bở”; nàng mếu máo cười, rồi rỗi hờn nói :
- Được rồi! Được rồi! Hôm sau em mang trả anh là được chứ gì?
Đức Minh nháy mắt và quả quyết nói :
- Không!
Chung Thủy giãy nảy :
- Thế thế anh muốn gì nào?
Sợ đùa quá đà khiến nàng giận thật thì khốn, anh dịu dàng nói :
- Anh anh muốn được em tặng cho một chiếc khăn mùi xoa khác.
Biết lại bị chàng đùa giỡn , nàng phụng phịu :
- Cái cái anh này chỉ giỏi khéo châm chọc người ta thôi.
Đức Minh ngồi vào ghế đối diện với nàng qua bàn, anh lên tiếng :
- Hôm nay anh rất bất ngờ.
Chung Thủy hỏi :
- Anh ngạc nhiên vì em tới đột ngột quá đúng không?
- Đó là một phần. Điều anh bất ngờ nhất chính là được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoàn mỹ của em trông bộ váy rất bắt mắt.
Nghe chàng khen ngợi tiếp. Nàng không nói gì, chỉ e ấp cười, rồi hỏi :
- Đây là lần thứ hai anh em mình gặp nhau. Sao anh không nhìn mà vẫn có thể đoán ra em?
Đức Minh giải thích :
- Mọi người dù có đi khắp cùng trời cuối đất cũng không thể tìm được một người thứ hai tự xưng là “bản cô nương”. Đó chính là thương hiệu độc đáo của riêng em đấy.
Không thấy nàng đáp lại. Chàng nói tiếp :
- Anh còn biết em đã đến đây bằng xe tắc xi nữa kia.
Nàng ngạc nhiên hỏi vặn :
- Sao sao anh biết tài thế?
- Ngoài trời đang mưa rào, người em lại khô ráo cho thấy em đã che thân bằng một thứ gì đó. Quan sát tiếp thấy đôi guốc em đang đi vừa khô ráo vừa sạch sẽ, chứng tỏ em không thể đi bộ hay đi bằng xe máy hoặc xe đạp, vì nếu đi bằng những phương tiện đó dưới trời mưa to ít nhiều giày dép cũng bị dính bùn đất và quần áo sẽ bị dính nước mưa, dù cho có mặc áo mưa kín kẽ đi nữa. Mặt khác, một người ăn mặc lộng lẫy như em, một khi đi bằng những phương tiện đó sẽ tìm nơi trú, chứ không thể nào lại đội mưa to để đi được.
- Chung Thủy tỏ ra ngưỡng mộ, nói :
- Không thể có gì lọt qua được mắt anh. Thế anh có biết bói không?
Đức Minh nói :
- Có chứ! Anh đã phán thì chỉ có trúng trăm phần trăm.
Chung Thủy liền kéo ghế nhích lại gần chàng, rồi đưa bàn tay ra và nói :
- Anh có biết nhìn vào lòng bàn tay để bói không.
Đức Minh cầm lấy bàn tay thon thả của nàng, anh lật sấp rồi lại lật ngửa, sau đó miết vào lòng bàn tay đó làm cho nàng cảm thấy tê tê trong niềm sung sướng ngọt ngào, rồi nói :
- Em đưa tay kia ra đây cho anh xem nào.
Chung Thủy làm theo như một cái máy, nàng vừa giơ tiếp tay kia ra vừa không ngừng liếc nhìn trộm chàng.
Đức Minh phán :
- Em là một người thường xuyên luyện tập xà đơn.
- Giỏi qúa! Giỏi quá! Thế còn chuyện học hành v..à và tình yêu thì sao?
Đức Minh ngập ngừng nói :
- Điều đó, điều đó anh không biết được.
Chung Thủy bĩu môi, nói :
- Thế mà anh dám xưng là thầy bói. Nhưng sao anh biết em hay lên xà đơn?
Vì bị nàng chỉ trích nên chàng bẽn lẽn lên tiếng giải thích :
- Một tiểu thư cao ráo và có đôi chân với đôi tay dài như em, trong khi không phải lao động chân tay nhưng lại có vết chai ở lòng bàn tay, điều đó cho biết em thường hay lên xà đơn.
- Anh lí giải rất chính xác và dễ hiểu. Thế nghề thám tử khác gì nghề thầy bói?
- Nghề thầy bói dựa trên sự đoán bừa hoặc đoán mò còn nghề thám tử đưa ra sự phán đoán phải dựa trên những cơ sở xác thực có tính khoa học.
- Thế quan trọng nhất của nghề thám tử là gì?
- Đó là khả năng quan sát nhạy bén kết hợp với sự tư duy suy luận phân tích chính xác và óc tưởng tượng tinh tế. Nhiều khi không thể nhận thấy ngay được những dấu hiệu hay cơ sở phạm tội, lúc đó đòi hỏi người điều tra phải có óc tưởng tượng tinh tế tới mức có thể nhập vào vai hung thủ hoặc nạn nhân như thật để lần tìm ra dấu vết phạm tội đang tạm thời là bí ẩn trước con mắt của nhà điều tra.
Chung Thủy cúi đầu khâm phục :
- Lí luận của anh thật logic và rất sắc sảo.
Đức Minh mỉm cười, chàng nói :
- Nói về khả năng lý luận, anh còn thua xa đại ca Đức Hạnh, huynh ấy mới là thiên tài về lí luận, lý luận của đại ca đã đạt tới mức biện chứng siêu nhiên.
Chung Thủy không hiểu, nàng hỏi :
- Biện chứng và logic thì khác gì nhau?
Đức Minh giải thích :
- Đó là hai cấp độ của tư duy. Trong đó tính logic thường mang đậm sắc thái siêu hình cho nên không thể phản ánh chính xác trạng thái vận động tất yếu khách quan của vật chất như phép biện chứng. Người suy nghĩ logic thường có tính phiến diện ở chỗ từ cái này suy ra cái kia, nhưng một khi cái cơ sở là sai lầm thì dẫn đến cái cái suy ra cũng sẽ sai lầm luôn, mặc dù quá trình suy ra là hoàn toàn hợp lý và do đó làm cho con người ta nhầm lẫn; còn người suy nghĩ biện chứng luôn luôn biết lật ngược vấn đề ở chỗ trước khi chấp nhận cái suy ra không chỉ xem xét lại quá trình suy ra có hợp lý hay không mà còn phải xem xét cả cái cơ sở có đúng đắn hay không.
Thấy nàng ngẩn tò te, anh liền lấy ví dụ minh họa :
- Đố em : “một năm có mấy tháng, một tháng có mấy tuần, từ đó suy ra một năm có mấy tuần”?
Chung Thủy cho câu hỏi đó là quá dễ nên hấp tấp trả lời ngay :
- Điều đó quá dễ! Một năm thì có mười hai tháng, một tháng thì có bốn tuần, từ đó suy ra một năm có bốn mươi tám tuần.
- Thật không?
- Chứ sao! Một năm không đúng là có mười hai tháng à?
- Đúng!
- Thế một tháng không có đúng là bốn tuần à?
Đức Minh không trả lời câu hỏi đó, anh hỏi tiếp :
- Thế một tuần có mấy ngày, từ đó suy ra một năm có mấy ngày?
- Câu hỏi này cũng quá dễ! Một tuần có bảy ngày, từ đó suy ra một năm có ba trăm ba mươi sáu ngày.
Đức Minh hỏi lại :
- Một năm có bao nhiêu ngày?
Chung Thủy buột miệng trả lời ngay :
- Dĩ nhiên là ba trăm sáu mươi lăm ngày.
Đến lúc này nàng mới chợt nhận ra điều hớ hênh của bản thân mình. Nàng tự nhủ :
- Quái lạ! Tại sao theo suy luận logic trên thì một năm chỉ có ba trăm sáu mươi ngày, nhưng sự thật lại là ba trăm sáu mươi lăm ngày, thế thì đi đâu mất hai mươi chín ngày?
Nàng cứ thầm thì với chính mình nhưng không thể nào tự giải đáp nổi. Nhìn tân thủ khoa đại học Hồng Đức nhăn nhó, Đức Minh bèn lên tiếng giải thích :
- Một nhà logic thường hay ngộ nhận những kết quả suy luận sai lầm vì luôn luôn tự phụ cho rằng bản thân rất giỏi suy luận, mà quên mất rằng một khi cái cơ sở suy luận đã sai lầm thì cái kết quả suy luận làm sao không bị sai lầm.
Chung Thủy lúng túng cãi lại :
- Nhưng nhưng quá trình suy luận của em là hoàn toàn đúng mà.
Đức Minh mỉm cười, nói :
- Là một nhà biện chứng mác-xít anh phải đưa ra một kết quả tương đối chính xác nhất có thể, đó là một năm không phải có ba trăm sáu mươi lăm ngày.
Chung Thủy cãi tiếp :
- Một năm không phải có ba trăm sáu mươi lăm ngày thì có bao nhiêu ngày?
Đức Minh quả quyết :
- Chính xác một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày cộng với một phần tư ngày, cho nên cứ sau bốn năm phải xuất hiện một năm nhuận có ba trăm sáu mươi sáu ngày.
- Điều đó thì em biết nhưng anh hãy giải thích xem tại sao kết quả lại lệch đi mất hai mươi chín ngày.
- Rất đơn giản! Bởi vì em đã suy luận logic trên những cở sở suy luận sai lầm, cho nên đã dẫn đến kết quả sai lầm, mặc dù em thực hiện mấy phép nhân chia cộng trừ hoàn toàn đúng.
Dường như nàng đã mường tượng ra điều sai sót của bản thân nên không còn cãi lại. Chàng nói tiếp :
- Cái cơ sở suy luận sai lầm là ở chỗ một tháng không phải chỉ có bốn tuần mà có những tháng có bốn tuần cộng với hai ngày và có những tháng có bốn tuần cộng với ba ngày.
Lần này thì nàng không còn có lí nào để cãi nên ngoan ngoãn im lặng. Chàng nhắc nhở :
- Đừng có bao giờ xem thường những điều nhỏ nhặt cô bé à.
Chung Thủy lí nhí trả lời :
- vân..g!
Đức Minh nhắc nhở tiếp :
- Con người ta thường khéo léo che đậy những việc lớn lao mà hay sơ suất trong những việc nhỏ nhặt. Cho nên ở đời, không bao giờ được dung dưỡng những điều sai trái nhỏ bé, cũng như đừng bao giờ thấy điều thiện bé nhỏ mà bỏ qua không làm.
- Anh nói cứ như một nhà hiền triết ấy nhỉ?
- Đó là những điều đại ca Đức Hạnh đã chỉ dạy cho anh đấy.
- Lại đại ca Đức Hạnh. Anh ta có thông minh bằng anh không?
- Đại ca thông minh hơn anh vạn lần.
- Thế hiện nay đại ca của anh ở đâu?
- Bây giờ huynh ấy đang bận công tác ở trong miền nam. Huynh ấy đang là lính phòng không đó. Nếu em thích, anh sẽ làm ông mối cho.
Chung Thủy lưỡng lự một lát rồi hỏi tiếp :
- Thế anh ta có hài hước v..à và đẹp trai như anh không?
Vốn biết rõ nàng là người rất bạo dạn nhưng chàng không thể nào ngờ được là nàng lại đưa ra câu hỏi so sánh khó khăn đến mức đó nên chàng lúng túng đáp :
- Điều điều đó còn phải phụ thuộc vào tiêu thức đánh giá của từng người.
Chung Thủy ra vẻ thâm thúy nói :
- Em nghe nói : “bậc minh quân không ham lập công ở nơi xa”.
**
*
Sáng hôm sau.
Tại công an huyện Đông Sơn, Tạc Bình trao đổi với hai phụ tá, anh nói :
- Theo báo cáo pháp y cho biết nạn nhân là một nam thanh niên khoảng chừng 18 tuổi bị chết do chấn thương sọ não gây ra bởi vật rắn nện vào vùng thái dương bên phải về phía trước mặt của nạn nhân và đã bị giết cách đây hơn một tuần, v.v… – ngừng lại quan sát hai đồng nghiệp, rồi anh nói tiếp – các cậu có ý kiến gì không?
Đinh Hợi lên tiếng :
- Qua báo cáo pháp y cho thấy nạn nhân bị hung thủ nện vật rắn vào vùng thái dương bên phải về phía trước mặt dẫn đến tử vong, chứng tỏ hung thủ là một người thuận tay trái và đã đứng trước mặt nạn nhân trước khi ra tay sát hại.
Tạc Bình khen ngợi :
- Tốt lắm! Cậu phân tích rất chính xác. Trên đời này số người thuận tay trái rất ít, cho nên việc truy tìm tên sát nhân thuận tay trái trong một vùng quê sẽ không có khó khăn mấy.
Thấy Bính Tuất đăm chiêu suy nghĩ, Tạc Bình liền lên tiếng động viên :
- Bính Tuất! Cậu có ý kiến gì không?
Bính Tuất rụt rè nói :
- Em em thấy…
- Cậu lấy bình tĩnh rồi hãy nói.
- …em thấy hầu hết những vụ giết người đều do vô ý hoặc do không làm chủ được bản thân trong nhất thời. Trừ những tên có máu lạnh ra, bất kỳ ai cũng phải sợ tù tội và lương tâm của chính mình do đó động lực thúc đẩy họ giết người chủ yếu phải do mâu thuẫn dồn nén quá lớn đến mức độ không thể đội trời chung với nhau, số lượng những vụ án mạng loại này không nhiều; mặt khác, hung thủ đã đứng trước mặt nạn nhân trước khi ra tay sát hại cho thấy có khả năng nạn nhân với hung thủ có quen biết nhau và giữa họ đã xảy ra cãi vả dẫn đến xung đột.
Tạc Bình ngạc nhiên, nói :
- Giỏi! Nhận định vấn đề rất tốt. Hôm nay tớ thấy các cậu như lột xác đó.
Đinh Hợi và Bính Tuất dõng dạc đáp lại :
- Cám ơn anh đã khen ngợi! Chúng em còn phải đi theo học hỏi anh nhiều.
- Tốt lắm! Cứ như thế mà phát huy. Bây giờ hai cậu hãy chia nhau đi xác minh xem có ai mất tích trên địa bàn trong hơn một tuần qua không. Còn về phần tớ, tớ sẽ đi xem xét lại hiện trường và truy lùng những người thuận tay trái ở các xã xung quanh.
- Rõ! Xin tuân lệnh sếp.
Nhìn hai bạn trẻ vội vàng đi thi hành nhiệm vụ, Tạc Bình cảm thấy rất hứng khởi trước sự năng nổ của họ.
Trước tiên anh đi quan sát lại địa bàn, anh nhận thấy đường liên xã chạy qua xã Đông Yên và có một con đường nhỏ rẽ vào xã Đông Hòa, sau đó chia ra thành nhiều con đường làng; còn hiện trường án mạng nằm ở đằng sau của xã trên một con đường làng chạy thẳng ra ruộng. Gò đất hoang đó nằm ở một vị trí tương đối khuất và muốn đi vào đó chỉ có thể đi bằng con đường làng của xã Đông Hòa. Gò đất hoang cách đường liên xã gần một cây số và từ đường liên xã vào xã Đông Hòa phải đi qua một đoạn đường vắng với hai bên đường là ruộng nương.
Sau khi quan sát kỹ địa bàn, anh tiến vào xã và tới từng làng, đến làng nào anh cũng hỏi thăm về những người thuận tay trái qua những người bán hàng nước. Anh vào một quán nước và nói :
- Bác cho em một chén nước – rồi anh lên tiếng phàn nàn – trời hôm nay sao nóng bức quá!
Chị chủ quán vừa rót nước ra cốc cho khách vừa đáp lại :
- Trời oi bức thế này thì rất có thể mưa to đấy chú ạ – chị đặt cốc nước trước mặt khách, lúc đó chị mới nhận ra Tạc Bình nên hỏi – chú có phải là chú công an huyện đã tới điều tra xác chết ngoài gò đất hoang vào ngày hôm qua không?
Tạc Bình vừa nâng cốc nước lên uống vừa trả lời :
- Dạ vâng! Em đang đi quan sát địa bàn.
Chị chủ quán nhanh nhảu nói :
- Xã này chỉ có bốn làng thôi, đây là làng Hòa Nhã còn gò đất hoang nằm ở sau làng Hòa Thuận.
Không thấy Tạc Bình nói gì, chị chủ quán lên tiếng hỏi tiếp :
- Thế các anh công an đã xác định được nạn nhân là ai chưa?
Tạc Bình đáp :
- Tạm thời chúng em chưa thể xác minh được – rồi anh hỏi – trong làng này có ai thuận tay trái không hả bác?
Chị chủ quán trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi trả lời :
- Tôi sinh ra và lớn lên ở đây từ nhỏ. Trong suốt hơn ba mươi năm qua, tôi chưa thấy một ai thuận tay trái cả.
Thấy thông tin cần thiết đã thu thập được, Tạc Bình bèn uống cạn cốc nước rồi nói :
- Cám ơn bác! Bác cho em gửi tiền.
- Hết một ngàn thôi chú à.
Tạc Bình rút mười ngàn ra đưa cho chủ quán, chị chủ quán tay cầm tờ tiền và miệng cười toe toét nói :
- Chị không có tiền trả lại. Chú làm ơn lấy thêm thuốc nhé.
Rời khỏi làng Hòa Nhã, anh đi xe sang làng Hòa Thuận. Tới trước trường học của xã, anh thấy hai quán nước, không một chút lưỡng lự anh bước ngay vào quán nước của một bà cụ.
Không phải Tạc Bình thương cụ già cả nên mới vào quán nước đó, đơn giản là vì vị chủ quán nước kia cũng giống như chị chủ quán lúc nãy vừa như “cá sấu” lên bờ vừa trạc tuổi nhau, anh sợ lại bị họ “móc” tiền túi một lần nữa.
Lần này anh uống nước chỉ cho có lệ, anh lên tiếng hỏi han :
- Thưa cụ! Cụ bán quán có đắt hàng không ạ.
Bà cụ phàn nàn :
- Dạo này bọn học sinh đã lác đác đi học thêm nên bán được hơn so với tháng trước – vừa nói cụ vừa nhìn sang bên kia ra vẻ thách thức. Cụ cố gắng nói to - nhưng kể từ khi con bé kia mở quán bán bên cạnh khiến cho khách tới mua hàng ở quán này giảm hẳn đi.
Lúc đó cô gái bán quán nước bên kia cũng đang nhìn sang quán nước bên này, tâm điểm của cô chính là Tạc Bình, cô chửi đổng :
- Đúng là cái thằng dở hơi, chị đây không chọn lại đi chọn cái bà già khú đế.
Thấy vậy, Tạc Bình nghĩ thầm : “không ngờ bây giờ “cơn lốc” cạnh tranh thâm nhập cả vào những quán nước ở làng quê hẻo lánh”; rồi anh nhận xét : “tư tưởng của họ đã được “đô thị hóa” trước cả đô thị hóa cở sở hạ tầng”.
(Đây là một câu nói mỉa mai cho mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội, trong đó ý thức xã hội có thể đi trước tồn tại xã hội).
Bà cụ quay sang nói nhỏ với Tạc Bình :
- Chú chớ có chấp cái loại vô học đấy làm gì.
Tạc Bình cười trừ, anh lên tiếng hỏi :
- Thưa cụ! Cụ cho cháu hỏi : “trong làng này có ai thuận tay trái không ạ”?
Cụ già trả lời ngay tức khắc :
- Không có đâu chú ạ! Chỉ có một ông thương binh cụt tay phải thôi.
Tạc Bình nghe bà cụ nói mới ngớ người ra, anh nhận ra mình đã bỏ xót mất một loại đối tượng tình nghi quan trọng đó là những người cụt cánh tay phải hoặc cánh tay phải bị yếu khả năng lao động so với cánh tay trái.
Bà cụ tò mò nên hỏi tiếp :
- Thế chú tìm người thuận tay trái để làm gì thế?
Sau khi đã đi tìm hiểu khắp cả bốn làng, Tạc bình tới công an xã Đông Hòa gặp trưởng công an xã, anh hỏi nhằm xác minh lại một lần nữa :
- ở xã này có những ai bị cụt cánh tay phải hay có cánh tay phải bị yếu khả năng lao động, anh có biết không?
Trưởng công an xã đáp :
- Nhân khẩu thường trú ở xã này không đông nên ai bị cụt tay tôi biết ngay. Có cả thảy năm người cụt tay; trong đó chỉ có hai người cụt tay phải, họ đều là những thương binh. Và không có bất kỳ ai bị dị tật ở tay cả.
Chiều hôm đó.
Tại công an huyện Đông Sơn, Tạc Bình thảo luận chuyên án với hai phụ tá. Anh nói :
- Sáng nay, tôi đi quan sát địa bàn, tôi thấy xã Đông Hòa là một xã cô lập hoàn toàn, hung thủ muốn đem giấu xác nạn nhân vào gò đất hoang buộc phải đi bằng con đường làng.
Bính Tuất nói :
- Còn em đi khảo sát xã Đông Yên với vài xã xung quanh đó, em nhận thấy vùng đó có nhiều gò đất hoang cho nên nếu hung thủ giết nạn nhân ở xã khác thì y thay vì đem giấu xác nạn nhân vào gò đất hoang đó mà sẽ giấu tử thi ở các gò đất hoang gần đấy sẽ thuận lợi hơn.
Đinh Hợi nói :
- Chúng em đã qua các xã xung quanh để điều tra những người mất tích trong thời gian đấy nhưng không thấy có ai. Thanh niên vùng đó hầu hết đi vào nam làm ăn chỉ tới dịp tết mới về và sau tết hai ba tuần lại kéo nhau đi; cho nên vào mùa này, dân cư trong vùng rất vắng vẻ. Cách đây hơn một tuần có hai nam thanh niên lên xã đăng ký tạm vắng, còn xã không nắm bắt được những người rời khỏi địa phương nhưng không có báo cáo. Tuy nhiên không có bất cứ gia đình nào thông báo có người mất tích.
Tạc Bình khen ngợi – các cậu làm việc rất tốt – rồi anh nói tiếp – theo các cậu hung thủ có nhất định phải là người thuận tay trái không?
Đinh Hợi trả lời :
- Theo báo cáo giám định pháp y, căn cứ vào vết thương tích trên thi thể cho thấy khả năng lớn hung thủ chính là người thuận tay trái.
- Tôi đã điều tra khắp các làng trong xã Đông Hòa nhưng mọi người làng đều nói : “không có ai như thế cả”.
Đinh Hợi nói tiếp :
- Có khả năng hung thủ là người ở xã khác chăng?
Bính Tuất phản đối :
- Nơi giết người chắc chắn là ở trong xã Đông Hòa cho nên có thể nạn nhân là người ở nơi khác đến và bị chủ nhà giết chết, chứ nhất nhất định hung thủ phải là người ở trong xã đó.
Thấy Đinh Hợi tặc lưỡi, Tạc Bình lên tiếng :
- Theo tôi, hung thủ chưa chắc đã phải là người thuận tay trái.
Đinh Hợi và Bính Tuất ấp úng nói :
- Nhưng…
Tạc Bình giải thích :
- Ngay từ ban đầu chúng ta đã phán đoán : “hung thủ không phải là người biết che đậy giấu vết” cho nên y sẽ không đánh lạc hướng điều tra bằng cách làm những gì trái với tự nhiên. Tuy nhiên có một nhóm đối tượng nữa cũng không có khả năng sử dụng cánh tay phải là những người bị cụt cánh tay phải hoặc những người có cánh tay phải bị yếu khả năng lao động.
Bính Tuất cúi đầu ra vẻ khâm phục rồi thốt lên :
- Anh nhận định rất chính xác.
Đinh Hợi hấp tấp nói :
- Không thể được!
Tạc Bình ngạc nhiên, hỏi :
- Tại sao?
Đinh Hợi trả lời :
- Bởi vì nếu hung thủ không có cánh tay phải thì làm sao trói nạn nhân, buộc miệng bì và khuân xác nạn nhân đi được.
Tạc Bình nhìn Đinh Hợi tỏ ra không hài lòng, to tiếng nói :
- Ăn phải bảy lần nhai, nói phải bảy lần nghỉ. Cậu nhận xét hấp tấp quá. Điều đó cho thấy hung thủ có tòng phạm.
Nghe sếp phân tích rất có lý, Đinh Hợi đành im lặng. Tạc bình nói tiếp :
- Tôi thấy tư tưởng của người dân vùng quê hẻo lánh đó bị “đô thị hóa” nặng lắm.
Bính Tuất tỏ ra đồng tình nên phụ họa theo :
- Bây giờ ở đâu chẳng thể hả anh. Như ở xã Đông Thanh quê em, vốn là một xã hiếu học mà nay lũ choai choai cũng biết tới nhà nghỉ, cờ bạc và lô đề.
Đinh Hợi cũng a dua theo :
- Cái bọn con nít đít ranh bây giờ cũng đú đở tập tành nhậu nhẹt, con gái thì mắt xanh mỏ đỏ, con trai thì đầu gà đuôi ngựa trông cứ như là ở trong phim kinh dị ấy.
Tạc Bình gắt gỏng :
- Thôi! Thôi! Các cậu định biến nơi đây thành diễn đàn xã hội đấy hả. Đó là công việc của các nhà xã hội học, còn chúng ta là những nhà điều tra điều tra rõ chưa?
Đinh Hợi và Bính Tuất nhìn nhau e dè, rồi lí nhí đáp :
- Dạ dạ! Chúng em rõ rồi ạ.
Tạc Bình dịu giọng cười nói :
- Tớ quá lời! Cho tớ xin lỗi! Hôm nay trời oi bức quá.
Đinh Hợi và Bính Tuất cùng tươi cười đáp :
- Dạ! Không có gì đâu ạ!
Tạc Bình nhận xét :
- Chứng tỏ dân xã đó, họ không hiền hòa như những cái tên làng của họ đâu. Tuy nhiên giết người không bao giờ phải là giải pháp đem lại sung sướng cho con người, nhất là những người dân thôn quê chất phác.
Sau đó, anh ra lệnh :
- Chiều nay trời đang mưa to. Sáng mai tôi yêu cầu hai cậu trở lại xã Đông Hòa và đến nhà hai vị thương binh bị cụt tay phải và tìm hiểu xem sao.
- Vâng! Thưa sếp!
Hai đồng ngiệp trẻ đi khuất rồi, còn mỗi một mình trong phòng, Tạc Bình mới cảm thấy mệt mỏi, anh bèn ngả người lên trên thành ghế và hai mắt lim dim. Bất chợt một tia sáng lóe lên trên đầu anh, anh mở bừng mắt ra và lẩm bẩm một mình :
- Biết đâu hung thủ là một người mới chuyển tới sống ở xã đó và ít giao du với người khác cho nên người làng không nhận ra đặc điểm cá biệt đấy. Sáng mai mình nhất định phải tới đó để tìm hiểu về vấn đề này mới được.
Cũng trong ngày hôm đó.
Lúc Đức Minh ra mở cửa văn phòng, anh nhận được một lá thư đe dọa viết bằng tay. Nội dung lá thư như sau :
Gửi gã thám tử tài hoa Đức Minh!
Hiện nay, bản cô nương Chung Thủy đang bị chúng tôi bắt cóc. Nếu ngươi muốn nàng bình an trở về thì tám giờ tối nay hãy tự dẫn xác tới hồ nước trong công viên Hồ Quảng. Chớ có sai hẹn và cấm báo cho ai, nếu không thì hãy chờ nhặt xác của người đẹp.
Kí tên : băng sát thủ kinh hoàng.
Đức Minh đọc lá thư xong, bất giác anh bấm máy gọi cho nàng nhưng chỉ thấy máy báo lại : “thuê bao quý khách vừa gọi tạm thời không liên lạc được”.
Anh tiến lại ghế ngồi thưởng thức kẹo lạc và bánh bích quy hải châu với chè búp Thái Nguyên trong tiếng nhạc vàng du dương, trên tay anh vẫn cầm lấy tờ giấy và quan sát kỹ để xem có thể lần tìm ra được giấu vết gì không, đó chỉ là một tờ giấy A4 và nội dung bức thư được viết bằng tay với nét chữ rõ ràng mềm mại như nét chữ của con gái. Bất chợt anh mỉm cười, rồi lim dim đôi mắt để ổn định lại tinh thần.
Suốt ngày hôm đó anh vẫn làm việc như thường lệ.
Đúng tám giờ tối, anh khoan thai bước vào khu vực hồ nước của công viên Hồ Quảng. Bỗng từ đằng sau xuất hiện ba sát thủ tay lăm lăm trường côn (gậy dài), anh chưa kịp lên tiếng thì phía trước lại xuất hiện một sát thủ đứng nép mình vào bóng tối và cất lên tiếng nói sang sảng :
- Khá khen cho thám tử tài hoa Đức Minh dám một mình dẫn xác tới đây. Chúng ta là tứ đại cô nương đây.
Đức Minh ung dung đáp lại :
- Các ngươi có là tứ đại hồn ma, ta đây cũng không sợ. Ta đầu đội trời, chân đạp đất, từng tung hoành thiên hạ từ bắc chí nam, lẽ nào lại sợ mấy vị cô nương chân yếu tay mềm.
- Ngươi! Ngươi dám…! – Sau đó cô ta ra lệnh - Các sư muội! Hãy trổ tài múa trường côn cho vị đại ca đây sợ mất mật đi.
Tiếng ra lệnh vừa dứt, lập tức những cây gậy trong tay ba cô gái ở đằng sau xoay tít trên đôi tay của họ. Thấy vậy, cô gái đứng ở phía trước nói tiếp :
- Bây giờ ngươi đã hối hận vì muốn cứu người đẹp chưa?
Anh dõng dạc đáp :
- Vì nàng! Ta sẽ làm tất cả.
- Kể cả nhảy vào lửa.
- Việc đó thì còn phải tùy.
- Thế mà người dám nói : “sẽ làm tất cả vì nàng”. Đúng là mồm mép lật lọng của đàn ông”.
Đức Minh phản biện :
- Yêu người là để cho mình hạnh phúc và người sung sướng. Nếu không có một trong hai yếu tố đó thì tình yêu không thể nào trọn vẹn và xét đến cùng, không tồn tại một trong hai điều đó thì điều kia cũng không thể xảy ra. Cho nên ta đây sẵn sàng nhảy vào lửa để cứu nàng, còn nếu nàng bảo ta nhảy vào lửa cho nàng vui thì ta đây không có dại.
Bị đuối lý, bản cô nương liền vùng vằng lên tiếng :
- Các sư muội! Còn chờ gì nữa mà không ra tay tiêu diệt kẻ lẻo mép này.
Lời ra lệnh vừa dứt, ba cô gái lập tức dừng tay rồi cùng lao gậy về phía Đức Minh, anh vội vàng lăn lộn một vòng sang ngang để tránh né.
Anh vừa đứng dậy, bản cô nương đã bay người đạp tới. Nhanh như cắt anh hụp người xuống tránh né khiến cho bản cô nương bị chới với. Đúng lúc chân nàng lướt qua đầu anh, anh liền hơi đứng người lên, rồi lập tức ngã ngửa ra để đón đỡ thân hình bản cô nương đang rơi tự do như một trái mít rụng. Anh vội ôm nhẹ lấy nàng, rồi cười và nói :
- Ha! Ha! Ha! Cuối cùng thì nhất đại cô nương cũng bị ta bắt rồi nhé.
Thấy hai người bọn họ nằm trận lên nhau. Mấy cô gái kia liền vỗ tay bôm bốp và lên tiếng trêu ghẹo :
- Chị Chung Thủy nằm đè lên bạn trai trông đẹp chưa kìa.
Chung Thủy lồm cồm đứng dậy, quay lại lườm chàng cũng đang lồm cồm đứng dậy theo, rồi giả vờ vùng vằng và lên tiếng trách yêu :
- Tất tất cả chỉ tại anh đó.
Thật ra trong thân tâm nàng cảm thấy rất sung sướng khi được nằm trong vòng tay của anh. Giá như không bị lũ em trêu chọc, có lẽ nàng sẽ còn giữ tư thế ngất ngây đó mãi.
Đức Minh luống cuống, nói :
- Anh anh đã làm sao nào?
Nàng phụng phịu :
- Sao sao ở trên đầu anh đó. Tự dưng tự lành lại ôm con gái nhà lành.
Ba cô gái kia ôm bụng cười ngoặt nghẽo. Đức Minh đành im lặng và liếc nhìn nàng, đúng lúc đó nàng cũng liếc nhìn lại, bốn mắt chạm nhau vội lảng tránh ngay. Chung Thủy làm ra vẻ còn bực bội anh lắm, nàng lườm lườm chàng rồi lớn giọng hỏi :
- Hình như anh đã đoán trước chính em là người sắp xếp việc này đúng không?
Đức Minh tươi cười đáp lại :
- Đúng vậy.
- Sao sao việc gì anh cũng biết vậy?
Đức Minh đưa một tay lên ôm lấy cằm còn tay kia khoanh tước ngực và nở một nụ cười bí hiểm, rồi anh giải thích :
- Có gì đâu! Thông thường những kẻ bắt cóc đòi yêu sách đều là những tên tội phạm chuyên nghiệp, chúng sẽ không bao giờ gửi bằng thư viết tay vì như thế có khác gì “lạy ông tôi ở bụi này”; trừ khi đó là một trò đùa.
Một trong ba cô gái kia nói :
- Bọn em đã được nghe chị Chung Thủy kể việc anh ra tay tả xung hữu đột đánh bọn côn đồ cứu người đẹp.
Hai cô kia liền đồng thanh hưởng ứng theo :
- Cứ như là Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ấy.
Đức Minh mỉm cười đáp lại :
- Làm gì có chuyện đấy. Trước đó, bản cô nương đã hạ đo ván hai gã đàn ông lực lưỡng. May cho tên thứ ba là anh đã xuất hiện kịp thời, nếu không thì cha mẹ hắn cũng sẽ không còn nhận ra hắn nữa.
Nói xong, anh quay sang nhìn Chung Thủy một cách trìu mến và nàng cũng nhìn lại chàng một cách tình tứ.
Một trong ba cô gái kia lại nói tiếp :
- Chị Chung Thủy giỏi võ thế mà anh chỉ cần tung ra một miếng là Ô..m được ngay chị ấy.
Chung Thủy liếc xéo đứa em rồi mắng :
- Mày toàn nói lung tung.
Cô gái ấy che miệng cười khúc khích, cô gái khác nói :
- Hay anh Đức Minh dạy võ cho chúng em nhé.
Đức Minh nghiêm nghị trả lời :
- Học võ trước hết là phải đánh mình, sau đó mới đánh được người.
Nghe vậy, ba cô gái kia cùng thốt lên :
- Thế thì ai còn dám học võ.
Chung Thủy nói to :
- Học võ là để đánh người, ai lại đi đánh mình.
Đức Minh cảm thấy rất buồn cười trước thái độ ngây thơ của các cô gái. Anh thầm nghĩ : “đúng là thời đại thương mại hóa võ thuật chỉ toàn chiêu mộ những cô chiêu cậu ấm. Chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang, đến khi đánh được người thì mặt vàng như nghệ”.
**
*
Vào một buổi sáng.
Tại văn phòng thám tử Thám Tử Tài Đức, Đức Minh đang trò chuyện với trưởng công an phường Phú Sơn.
Trưởng công an phường Phú Sơn vừa nâng chén nước chè búp Thái Nguyên lên vừa nói :
- Tối qua nhận được điện thoại của cháu nên sáng nay chú vội vã tới đây ngay.
Đức Minh ngồi vắt chéo hai chân, một tay chống cằm và một tay thả lỏng đặt lên đùi, anh hỏi :
- Thế lão đệ đã kịp ăn sáng chưa?
Trưởng công an phường Phú Sơn đã quá quen với việc Đức Minh gọi bản thân mình là “lão đệ” và tự xưng là “tiểu huynh”. Ông ta trả lời :
- Chú vừa mới ăn sáng xong.
Đức Minh mỉm cười, rồi hỏi tiếp :
- Lão đệ đã ăn sáng trong một quán ăn ở phố Phú Thọ 4?
Trưởng công an phường Phú Sơn hơi ngạc nhiên nên hỏi lại :
- Sao cháu biết?
- Tiểu huynh nhận thấy lão đệ từ lúc đến đây hớp nước liên tục, điều đó cho thấy lão đệ vừa ăn sáng bằng một món ăn mặn. Quan sát kỹ, tiểu huynh nhìn thấy trên kẻ răng của lão đệ có dính hành khô. Thông thường chỉ có hai món ăn sáng liên quan đến hành khô là xôi xéo và bánh cuốn. Trời hè nóng nực, với một người bụng phệ như lão đệ chắc chắn sẽ không ngồi ăn xôi của mấy bà bán quán vỉa hè. Mặt khác, lão đệ dù có muốn ăn xôi xéo thì ở phường này cũng không có. Qua đấy, chứng tỏ lão đệ đã ăn bánh cuốn. ở phường Phú Sơn, chỉ có mỗi phố Phú Thọ 4 này bán bánh cuốn mà thôi.
Trưởng công an phường Phú Sơn gật đầu khen ngợi :
- Lúc đầu mới nghe cháu nói, chú cứ tưởng cháu có mắt thần, có thể nhìn thấu suốt cả không gian lẫn thời gian. Không ngờ đến lúc nghe cháu lí giải lại thấy rất bình thường.
Đức Minh mỉm cười đáp lại và nói tiếp :
- Cái gì khi người ta chưa biết thì họ thường cho đó là một việc ghê ghớm, nhưng đến khi biết rồi họ lại cho đấy là một việc tầm thường. Ngày nay con người đang chuyển động với vận tốc cực bé nên coi thuyết tương đối là một thứ lý thuyết hóc búa; nhưng ngày sau, khi con người đã chuyển động với vận tốc ánh sáng, nhất định sẽ coi thuyết tương đối cũng giản đơn như thuyết vạn vật hấp dẫn mà thôi.
Trưởng công an phường Phú Sơn bị Đức Minh bắt bẻ liền tắt hẳn nụ cười như hoa nở, gượng gạo nói :
- Cháu vẫn không thay đổi, vẫn thích rắc ớt vào người khác.
Nhớ lại mấy năm về trước.
Lúc đó trưởng công an phường Phú Sơn bây giờ mới là phó trưởng công an phường Phú Sơn. Hôm đó, Đức Minh hối hả tới đồn và gặp phó trưởng công an phường Phú Sơn. Đức Minh sừng sộ hỏi :
- Các chú đã bắt được ba tên “tặng” cháu “nửa chỉ” khiến cháu phải khâu bảy mũi chưa?
Phó trưởng công an phường Phú Sơn ái ngại đáp lại :
- Xin lỗi cháu! Các chú vẫn đang nỗ lực truy tìm.
Thấy họ có ý bao che, Đức Minh nói như quát :
- Thế tại sao các chú lại trả xe mà mẹ cháu đã giao nộp cho bọn chúng?
Bị Đức Minh hạch sách, sau một phút lưỡng lự, phó trưởng công an phường Phú Sơn gượng gạo nói :
- Cháu cứ bình tĩnh, ngồi xuống và nghe chú giải thích đã.
Đức Minh kéo ngay ghế ra, ngồi dằn mạnh xuống ghế, trong khi đôi mắt vẫn nhìn chằm chằm về phía đối phương khiến phó trưởng công an phường Phú Sơn càng thêm bối rối. Vốn là một người quá sành sỏi trong việc giành thế chủ động nên ông ta tìm cách đánh trống lãng bằng cách hỏi :
- Gần một tuần nữa là tới ngày thi đại học. Cháu đã đăng ký thi vào trường nào?
Đức Minh trả lời :
- Cháu sẽ thi vào đại học Thương Mại.
- Chú thấy cháu rất có năng khiếu về điều tra. Sao cháu không đăng ký thi vào ngành cảnh sát?
Đức Minh thẳng thừng đáp lại :
- Bởi vì cháu nghĩ : “làm chó để cho người ta gọi là chó còn hơn làm người để bị người ta chửi là chó”.
Trở lại hiện tại.
Thấy lão đệ phàn nàn, Đức Minh cười xòa, rồi cất giọng đùa vui :
- Sao lại nói là “rắc ớt”? Phải nói là rắc “hạt tiêu” mới đúng.
Biết Đức Minh không còn chấp chuyện ngày xưa nên trưởng công an phường Phú Sơn lên tiếng ngợi khen :
- Kể từ khi cháu mở văn phòng thám tử ở phố Phú Thọ 4 này làm cho khu phố này trở nên yên bình hơn hẳn.
Đức Minh từ tốn đáp trả một cách giễu cợt :
- Lão đệ nói quá đó. Tiểu huynh đã làm được gì đâu. Đấy là thành quả từ tài năng trị dân rất sáng sủa của lão đệ cùng với thuộc cấp đó chứ.
Trưởng công an phường Phú Sơn liền nói vặn lại :
- Sao lại nói là “trị dân”? Lại còn nói là : “trị dân rất sáng sủa” nữa! Phải nói là do sự nỗ lực giữ gìn an ninh trật tự không biết mệt mỏi của các cán bộ công an mới đúng.
Đức Minh mỉa mai đáp lại :
- Lão đệ thứ lỗi, thứ lỗi! Tiểu huynh lỡ lời, lỡ lời!
Trưởng công an phường Phú Sơn cảm thấy nóng mặt vì bị Đức Minh giễu cợt liên tục, nhưng do muốn đạt được mục đích nên ông ta đành phải nuốt hận mà làm ngơ. Ông ta nói tiếp :
- Không có gì! Không có gì! Chú còn có lúc gây ra hành động sai lầm, cháu chỉ mới sai sót trong cách dùng từ ngữ thì có gì đáng để nói đâu.
- Xin đa tạ! Đa tạ!
- Cháu thấy đó. Mấy năm gần đây nhân khẩu ở phường ta tăng lên một cách đáng kể, chủ yếu là do dân di cư từ nơi khác tới thuê trọ. Tuy có làm cho đời sống của nhân dân sở tại tăng lên nhưng…
Đức Minh ngắt lời :
- Như thế thì các vị càng mừng chứ sao? Nhờ có họ mà cái “vùng trũng” của thành phố Thanh Hóa này đã được thay da đổi thịt. Như ở phố Phú Thọ 4 này, bây giờ mọc lên nhan nhản quán cơm bình dân và cửa hàng ăn sáng, có thể nói khu phố này đã trở thành khu phố ẩm thực.
- Cháu nói đúng lắm! Nhưng điều đó chỉ sướng cho ông chủ tịch chứ có sướng gì cho bọn chú. Họ tới thuê trọ, họ cũng “di cư” đủ thứ tệ nạn về đây. Bọn chú đang đau đầu để phá vỡ tình trạng ghi đề ghi đóm, rất mong được cháu hỗ trợ.
Cái phường Phú Sơn này tuy đã lên “chức” phố phường từ lâu nhưng thực chất vẫn còn mang đậm tính làng xã. Hầu hết “quan chức” đều là người dân gốc gác ở đây nên ngại “va chạm” với bà con chòm xóm ít nhiều đều có dây mơ dễ má.
Trưởng công an phường Phú Sơn thấy Đức Minh rất có uy tín với nhân dân ở trong phường và đang có nguyện vọng ứng cử vào vị trí đại biểu quốc hội nên ra sức tìm cách thuyết phục lẫn dụ dỗ và lôi kéo, hòng đẩy “gánh khó khăn” đó sang cho anh xử lý, nhằm “đục nước béo cò” mà nở mày nở mặt với cấp trên.
Đức Minh đã chuẩn bị sẵn sàng từ trước nên nói luôn :
- Hầu hết họ là những người không có nghề nghiệp. Đấy là cần câu cơm của họ, tiểu huynh chẳng dại gì mà dây dưa vào.
Vốn đã nghe Đức Minh từ chối lời đề nghị ấy từ tối hôm qua. Nhưng không ngờ lí do lại “vớ vẩn” như thế. Trưởng công an phường Phú Sơn lên tiếng thuyết phục :
- Sắp tới kỳ bầu cử đại biểu quốc hội, cháu phải nên nỗ lực đóng góp cho cộng đồng hơn nữa, chú tin với một người có đầy tài năng và thừa đức độ như cháu sẽ trúng cử trong khóa tới.
Biết đối phương dùng kế “nịnh tướng”; Đức Minh đáp lại :
- Cám ơn sự tin tưởng của lão đệ. Nói tới đóng góp cho xã hội, tiểu huynh này đã làm được không ít việc, không cần phải làm thêm cái việc “dẹp loạn” đó nữa.
Trò chuyện tới đây, Đức Minh lại nhớ tới thầy Đức Tử và đại ca Đức Hạnh.
Một hôm, Đức Hạnh và Đức Minh cùng tới thăm thầy Đức Tử. Thầy Đức Tử nói :
- Đường chính trị của hai trò sẽ rất gập ghềnh.
Đức Hạnh và Đức Minh cùng đồng thanh hỏi :
- Thưa thầy! Chúng trò phải làm sao để được thuận buồn xuôi gió.
Thầy Đức Tử trầm ngâm một lát rồi phán :
- Khó đấy! Khó đấy!
- Thưa thầy!...
- Các trò có biết vì sao không?
- Đó là do chúng trò còn tài hèn đức mỏng.
Thầy Đức Tử lắc đầu, rồi giải thích :
- Không phải! Không phải! Ba trò là tam kiệt của thế kỷ XXI, hai trò đều là những người có tài đức xuất chúng.
Đức Hạnh với Đức Minh cúi đầu rồi bẽn lẽn nói :
- Thưa thầy! Thầy dạy quá lời!
Thầy Đức Tử giải thích tiếp :
- Không phải vì ta là thầy dạy nên muốn tâng bốc hai trò lên. Tâng bốc để làm gì, chỉ có thầy với hai trò không thể làm thay đổi được thiên hạ khi sự thực đã là hiển nhiên; bởi vì cách mạng là thuộc về quần chúng nhân dân, là của muôn người và của muôn đời. Đức Hạnh thì như thanh kiếm lửa khiến cho người người xấu đều muốn tránh xa còn Đức Minh lại luôn luôn rắc ớt vào kẻ khác làm cho người người xấu đều phải sợ hãi – Thầy Đức Tử nhấn giọng nói – Một người làm chính trị, biết yêu điều thiện là tốt nhưng nếu ghét điều xấu thì thường gặp trắc trở.
- Chúng trò xin quyết tâm vượt qua chông gai và bão tố để hoàn thành tâm nguyện của thầy giao phó.
- Rất có ý chí! Rất tốt! Rất tốt! Nhưng không được chủ quan duy ý chí, phải biết tạo thế và đợi thời, đồng thời phải nhất định chờ đợi Đức Bình hoàn thành sứ mệnh ở những không thời gian khác trở về thì đại nghiệp mới có thể thành công.
- Chúng trò xin tuân theo lời dạy bảo của thầy.
Trở lại với cuộc chuyện trò giữa Đức Minh với trưởng công an phường Phú Sơn.
Thấy Đức Minh vẫn từ chối, trưởng công an phường Phú Sơn sẵng giọng nói :
- Phải chăng cháu sợ bị họ trả thù?
Biết đối phương “chơi” kế “khích tướng”; Đức Minh đáp trả :
- Không biết ai sợ ai, ai mới sợ ai trả thù. Theo tiểu huynh thì nhà nước không nhất thiết phải dẹp bỏ tệ nạn này, kể cả tệ nạn mại dâm. Thay vào đó là hãy cho phép hoạt động để kiểm soát.
Trưởng công an phường Phú Sơn không hiểu nên hỏi lại :
- Cháu nói gì? Chú không hiểu!
Đức Minh chậm rãi giải thích :
- Với một đất nước nghèo như Việt Nam rất cần gia tăng ngân sách để có nguồn đầu tư, cho nên phải thúc đẩy việc thu thuế hơn nữa vì thuế luôn luôn là nguồn thu chủ yếu. Hãy nhìn một số nước như ấn Độ, Thái Lan hay Xingapo, họ kinh doanh ngành nghề mại dâm từ lâu nay có thấy sao đâu. Chúng ta đã biết chiến đấu và chiến thắng, chúng ta đã dám cải cách và mở cửa, chúng ta đang không ngừng vươn ra “biển lớn”; tại sao chúng ta không quyết tâm đổi mới một lần nữa với kế sách cho phép hoạt động để kiểm soát? Hãy nhìn thành công của nước bạn để cho chúng ta học tập. Hãy thử nghiệm để rút kinh nghiệm trước khi tiến hành một cách đại trà. Hãy nên so sánh giữa việc cho phép hoạt động để kiểm soát và việc dẹp bỏ xem việc nào có lợi hơn, chứ không nên thiên lệch, có như thế mới tránh được những tư tưởng lệch lạc để đem lại thành tựu lớn hơn gấp bội. Chúng ta, ai ai cũng thừa biết rằng : “có dẹp cũng không thể hết được”; bởi vì những việc “phạm pháp” đó không trực tiếp hủy hoại được xã hội này, cho nên không thể được mọi người đồng tình ủng hộ hết thảy. Hãy xem, luật pháp ngăn cấm, họ vẫn lén lút hoạt động làm cho nhà nước mất đi một nguồn thu thuế dồi dào còn những những người tham gia hoạt động đó không được định hướng một cách có thể chấp nhận được. Nói tóm lại : hãy thử cho phép hoạt động để kiểm soát để xem xem nguồn lợi thu được có lớn hơn hẳn so với những tác hại gây ra hay không và có làm giảm đi đáng kể những tác hại gây ra so với hiện thời hay không. Chẳng lẽ những nước kinh doanh mại dâm như ấn Độ hay Thái Lan và những nước kinh doanh sòng bạc như Ma Cao hay Hồng Công là không văn minh, là không tiến bộ, là ngu dốt hơn chúng ta. Không làm chẳng qua là dốt nát, là nhát gan, là né tránh trách nhiệm, là trốn tránh trách nhiệm, làm biết đâu lại hiệu quả, bởi vì đường gần không đi không tới còn đường xa thì một khi đã quyết tâm đi vẫn có thể tới. Hãy coi đó chỉ là những “chất” gây nghiện ít tác hại như rượu hay thuốc lá.
Được tai nghe mắt thấy tường tận bài thuyết trình độc đáo, trưởng công an phường Phú Sơn không khỏi thầm thán phục sau khi háo hức nghe những tư tưởng diệu kỳ. Nghe Đức Minh nói một mạch dài dằng dặc, trưởng công an phường Phú Sơn không những không cảm thấy khó chịu mà còn như được sống lại một thời hào hùng của dân tộc trước lời lẽ dõng dạc của anh. Ông ta nói :
- Cháu không hổ danh là sinh viên kinh tế.
- Kinh tế quyết định mọi mặt của đời sống xã hội, đó là lí do vì sao tiểu huynh không đăng ký vào ngành cảnh sát mà lại thi vào trường đại học Thương Mại.
- Chú không ngờ cháu lại suy nghĩ thấu đáo đến như thế, chứ không phải là…
Thấy trưởng công an phường Phú Sơn nói năng ngập ngừng, Đức Minh đoán ra ngay nguyên do nên nói :
- Lão đệ chấp làm gì lời nói sốc nổi của một đứa bé lúc nóng nảy.
Càng trò chuyện, trưởng công an phường Phú Sơn càng tỏ ra ngưỡng mộ tài đức phi thường của chàng trai trẻ đang ngồi ngay trước mặt, mặc dù nhiều lúc cảm thấy rất uất ức trước lối nói năng không biết nhường nhịn của Đức Minh.
Mọi người thường lấy bụng ta suy ra bụng người; chứ với anh, anh luôn luôn cố gắng vận hành theo sự vận động khách quan của vật chất là hướng tới sự phát triển không ngừng trên cơ sở có sự đào thải những yếu tố tiêu cực, thậm chí có cả đào thải những phần tích cực nhỏ nhoi một cách tạm thời; còn mọi sự khôn ngoan hay khéo léo chẳng qua chỉ là những trạng thái khác nhau của ý thức, đã là ý thức thì chỉ là hệ quả của vật chất, không phải là thuộc tính của vật chất nên thường dễ gây ra sự vận động thiếu khách quan, tức là không phản ánh đúng đắn sự vận hành tất yếu của vật chất.
Trưởng công an phường Phú Sơn nói tiếp :
- Sao cháu không treo biển hiệu như chú đã gợi ý. Chú đã nói với bên phòng thuế rồi, họ hứa sẽ làm ngơ đó.
- Cám ơn lão đệ đã ra tay giúp đỡ. ở khắp thành phố Thanh Hóa, chỉ có mỗi một mình tiểu huynh hành nghề độc quyền này, đâu có lo ai cạnh tranh mà phải quảng cáo này quảng cáo nọ.
- Chứ không phải “tiểu huynh” sợ cái nghị định 52, cấm hành nghề điều tra dưới mọi hình thức sao?
- Cái nghị định đó chỉ cấm được các cơ quan cấp phép hành nghề điều tra, chứ làm sao ngăn cản được sự điều tra tự do, bởi vì mọi công dân đều có quyền điều tra thông tin.
- Chú không nắm rõ cái nghị định 52 đó. Nhưng chú thấy có một số nghị định ban hành ra được một thời gian là phải sửa đổi lại ngay. Chú ngẫm thấy việc ngăn cấm nhân dân điều tra dưới mọi hình thức như thế chẳng để làm gì, bởi vì hầu hết công an phá được án là do nhân dân cung cấp thông tin, nhiều khi để có được những thông tin hết sức cần thiết đó là phải do một số cá nhân tự điều tra khám phá. Cho nên ngăn cấm như thế là lợi bất cập hại ở chỗ công an phải tự độc lập tác chiến nhiều hơn, trong khi bọn tội phạm càng ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn. Chú tin với những chiến công lừng lẫy của vị thám tử tài hoa Đức Minh đại tài và trước sự tranh đấu kiên cường của những người dân yêu chuộng sự tự do điều tra thông tin sẽ buộc những người làm luật phải sửa đổi lại nghị định 52. Những người ban hành luật phải có nghĩa vụ sửa đổi còn nhân dân phải đóng góp ý kiến và tranh đấu với họ, đó không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ.
- Hay! Hay! Hay! Lão đệ nói rất đúng! Rất chính xác! – vừa nói Đức Minh vừa vỗ tay tán thưởng.
Biết rằng đã nói trúng sở nguyện của Đức Minh nên trưởng công an phường Phú Sơn liền trở ngay lại với mục đích ban đầu. Ông ta nói :
- Chú rất ủng hộ với việc cho phép các thám tử được hành nghề, bởi như thế sẽ giúp cho các chú san sẻ bớt khó khăn và gian khổ. Chú tin với sự giúp đỡ của cháu, nhất định chúng ta sẽ quét sạch tệ nạn lô đề ở phường này.
- Công an đã từng bao lần khổ công dẹp bỏ, nhưng tệ nạn lô đề như một con rắn nhiều đầu, mất đầu này nó sẽ mọc đầu khác, công an định quét đi quét lại bao lần nữa đây.
- Thế thì phải làm sao? Chẳng lẽ…
- Chúng ta phải biết sống chung với HIV, tình thương của cộng đồng sẽ giúp cho họ hòa nhập tốt đẹp hơn với cuộc sống vĩnh hằng.
- Nhưng nhưng đây là tệ nạn lô đề.
- Không thể đổ dầu vào lửa. Hầu hết, họ là những người không có nghề nghiệp, nếu không cho họ ghi lô đề thì sẽ đẩy họ vào con đường trộm cắp.
- Tư tưởng của cháu quá cao siêu, chú không thể theo được. Phường ta nhất định phải là phường văn hóa, cho nên nạn lô đề cần phải quét sạch, chỉ cần tạm thời cho đến qua kỳ bầu chọn là được.
- Ha! Ha! Ha! Sao lão đệ không đến thỏa thuận với những người ghi lô đề, đảm bảo họ sẽ đem tặng cho lão đệ vô số tấm biển nhà văn hóa, phố văn hóa, phường văn hóa.
- Chú đã quá kiên nhẫn với những sự mỉa mai của cháu rồi đó. Không có cháu “chợ vẫn đông”, không có cháu còn có bọn chú.
- Lão đệ nên nhớ rằng : “dao chặt xuống nước chỉ cần một lát sau mặt nước sẽ phẳng lặng lại ngay; còn một khi dao đã chặt vào cơ thể, dù vết thương có lành lặn trở lại thì chắc chắn cũng sẽ để lại vết sẹo”.
- Cháu nói gì thì hãy nói thẳng ra. Đừng có nói bóng nói gió chú không hiểu.
- Sự nóng giận quá mức đã làm cho lão đệ mất sáng suốt rồi, không lẽ trình độ của một trưởng công an phường lại không thể hiểu được những lời lẽ “kiêm ái” giản dị đó sao.
- Chú đến đây cùng bàn với cháu để tìm cách dẹp trừ tệ nạn, không phải để nghe cháu giễu cợt hay dạy đời. Không lẽ chú lại không biết “kiêm ái” là chủ trương hạt nhân của phái mạc gia còn “nhân nghĩa” là chủ trương hạt nhân của phái nho gia hay sao.
- Hay! Hay! Hay lắm! Dồn người ta vào chỗ chết để người ta biết sống tốt hơn. Sau cơn mưa trời lại sáng. Một khi người ta biết hướng về phía mặt trời thì mọi tăm tối sẽ ở lại phía sau lưng họ. Bình tĩnh và sáng suốt quá sẽ dẫn đến sự tức tối và ngu muội, tức tối và ngu muội quá sẽ đưa đến sự bình tĩnh và sáng suốt ở cấp độ cao hơn, đó gọi là quy luật phủ định của phủ định. Lão đệ còn biết tới học thuyết “kiêm ái” và “nhân nghĩa” chứng tỏ lão đệ sẽ có thể trở thành “đầy tớ” tốt cho phường Phú Sơn này.
- Chú cám ơn sự chỉ dạy của cháu. Chú biết cháu đã tìm ra cách thức hành động. Chú xin cháu hãy làm ơn nói ra.
- Với điều kiện.
- Điều kiện gì cháu cứ nói. Nếu làm được chú sẽ làm ngay.
- Lão đệ sẽ làm được.
- Nếu thế chú sẽ làm ngay.
- Lão đệ hãy cho biết sự thiết thực của hai học thuyết “kiêm ái” và “nhân nghĩa”.
- Học thuyết “kiêm ái” đề cao sự yêu thương giữa con người với con người, cho nên coi trọng việc hướng thiện; còn học thuyết “nhân nghĩa” đề cao chính nghĩa, cho nên coi trọng việc trừ gian diệt bạo. Hai học thuyết này nghe ra thì có vẻ mâu thuẫn nhưng thực chất là chúng tương hỗ với nhau. Trong thời đại hiện nay rất chú trọng tính con người, cho nên càng cần phải quán triệt những tư tưởng cao cả đó. Đó là không chỉ có lo trừng trị mà còn phải biết giác ngộ cái xấu; trừng trị kẻ xấu để cho họ phải trả giá cho những hành động sai trái của họ, để từ đó họ sợ và biết ăn năn hối cải, đồng thời cũng để răn đe những kẻ muốn có dã tâm phạm tội; còn giác ngộ để họ và những kẻ tội phạm khác hiểu được hậu quả của hành động sai trái đó bởi vì không phải kẻ phạm tội nào cũng biết được điều sai trái đó, đồng thời tạo điều kiện cho họ sớm làm lại một cuộc đời tốt đẹp.
- Tuyệt! Tuyệt vời! Quá tuyệt vời! Tại sao tiểu huynh thấy những lời lẽ lão đệ vừa nói khác hẳn với những gì đã làm vậy?
- Cuộc sống là như thế cháu à! Nói bao giờ cũng dễ dàng và tốt đẹp hơn so với làm vì ít chịu sự chi phối bởi các yếu tố khác hơn. Chỉ có thánh nhân mới biết quan tâm tới tất cả mọi người và chỉ có những người không có gia đình mới dám hi sinh hết thảy lợi ích của chính mình.
- Lão đệ nói rất có lý. Hy vọng đó không phải là sự tất yếu.
- Hãy nên hy vọng, không một nhà cầm quyền nào đi đánh thuế “hy vọng”. Nếu biết cách hy vọng thì có thể sẽ tạo ra động lực vươn lên và làm nên những điều kỳ diệu. Bây giờ cháu làm ơn cho chú biết điều cháu đã hứa và cũng là điều chú đang chờ đợi đi.
- Công an thường dồn tội phạm vào đường cùng để họ biết vươn lên bằng động lực sinh tồn?
- Có thể nói đúng là như thế.
- Thế lão đệ thấy tiểu huynh này vận dụng điều đó với lão đệ, lão đệ thấy sao?
- Thú thực! Chú không thể chấp nhận được, chẳng qua chú “trụ” được tới tận bây giờ hoàn toàn là do sự chịu đựng một cách nhẫn nại.
- Không thể lấy điều có thể đúng của ta để phê phán điều có thể đúng của người khác. Phải không nào? Bởi vì biết ai đã đúng ai đã sai. Đấy mới chỉ là những lời nói gió bay đã khiến lão đệ không chịu được; thử hỏi lão đệ đem điều đó đi áp dụng với người khác, nhất là lại đụng chạm đến lợi ích của họ thì họ có chịu ngồi khoanh tay bó gối không?
- Nhưng nhưng họ là những kẻ phạm tội.
- Họ đúng là những kẻ phạm tội nhưng họ chưa phải là tội phạm, họ cũng cần được đối xử như một con người, cho nên đừng bao giờ cho người khác bất cứ cái gì mà chính bản thân mình cũng không thích.
- Vậy vậy phải làm sao?
- Chính động lực sinh tồn thúc đẩy con người vươn lên, nhưng cũng chính động lực sinh tồn đã đưa đẩy con người lao vào sự sai trái. Dùng động lực sinh tồn để thúc đẩy loài người tiến lên, nhưng nếu cộng đồng không biết chìa tay ra nâng đỡ thì rất nhiều người yếu kém sẽ ngã xuống.
- Đúng! Đúng vậy! Nhưng đó chỉ một mớ lý thuyết suông, chỉ có hành động mới cải tạo được thực tế và chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
- Hãy vẽ đường cho hươu chạy.
- Vẽ đường cho hươu chạy! ý cháu bảo chú tiếp tay cho những kẻ phạm tội?
- Không! Không phải thế! Vẽ đường cho hươu chạy đúng đường.
- Hay, hay đấy! Nhưng cụ thể là như thế nào?
- Hãy tạo cho họ một số công ăn việc làm khác, đồng thời thường xuyên gần gũi và giáo hóa họ, chắc chắn sẽ có nhiều người giác ngộ ra, sau đó mới tiến tới trừng trị những kẻ cố cùng một cách điên cuồng còn sót lại, đây gọi là kế “rút củi dưới đáy nồi”.
- Tuyệt vời! Rất tuyệt vời! Có thế mà chú không thể nghĩ ra - trưởng công an phường Phú Sơn vừa vỗ tay tán dương vừa thốt lên những lời ca ngợi tràn trề.
- Với một người còn nắm rõ học thuyết “kiêm ái” và “nhân nghĩa” như lão đệ, một khi biết hòa nhập nhưng dám không hòa tan vào cái vòng “luẩn quẩn” được tạo ra bởi sự ích kỷ của con người thì chắc chắn sẽ đóng góp được rất nhiều công sức cho sự tiến bộ của cộng đồng.
- Từ nay nhất định chú sẽ sống với lương tâm của chính mình.
Đức Minh nở một nụ cười như mặt trời lúc mới mọc và cất giọng đùa vui :
- Hôm nào lão đệ đi hát karaoke thì cho tiểu huynh đi ké với nhé?
- Chú bận tối mặt tối mũi, làm gì có thời gian.
- Thật sao? Thế tối qua lão đệ cùng với mấy thuộc cấp đi đâu?
Trưởng công an phường Phú Sơn tìm cách né tránh ánh mắt săm soi của Đức Minh và rụt rè nói :
- Tối qu..a cháu theo dõi chú à?
- Tam đệ Đức Bình từng nói : “tướng giỏi binh pháp thì không cần phải bày trận, tướng giỏi bày trận thì không cần phải đánh, tướng giỏi đánh thì không thua, tướng khéo thua thì không chết”. Tiểu huynh dựa theo ý đó nên nói rằng : “người tài là phải biết quyết thắng từ trong màn trướng, người giỏi thì tuy ngồi ở trong nhà nhưng vẫn phải biết thấu đáo mọi sự trên đời”.
Đức Minh dừng lời và đưa mắt nhìn người lão đệ, thấy ông ta ngồi đực ra là biết ngay ông ta không thể nào hấp thụ nổi tinh hoa của tri thức diệu kỳ. Đức Minh nói tiếp :
- Tiểu huynh học kinh tế nhưng không còn nhớ là trong sách định nghĩa thương hiệu là gì. Tiểu huynh chỉ hiểu nôm na là : “thương hiệu thì phải gắn liền với sản phẩm”; chẳng hạn như nói tới phố Nguyễn Du là người ta nghĩ ngay tới dịch vụ karaoke và nói tới dịch vụ karaoke là người ta nghĩ ngay tới phố Nguyễn Du. Tối qua lão đệ chẳng đã nói đang đi cùng với mấy thuộc cấp tới phố Nguyễn Du đó sao?
Trưởng công an phường Phú Sơn chống chế :
- Lúc đó bọn chú có việc đột xuất.
- Ha! Ha! Ha! Phố Nguyễn Du đâu có nằm trên địa bàn phường Phú Sơn, cho nên dù ở đó có xảy ra bất cứ chuyện gì cũng không thể liên quan tới công an phường Phú Sơn; còn nếu có việc phải sang trao đổi với đơn vị bạn thì lại càng không thể tới phố Nguyễn Du, trừ khi… - dừng lại một lát để thăm dò động tĩnh của đối phương, thấy ông ta không nói gì, Đức Minh nói tiếp – bởi vì không có một đồn công an nào đóng trên phố Nguyễn du cả.
- Giỏi! Giỏi lắm! Chú xin tâm phục khẩu phục. Chú thừa nhận : “cháu là một người đại tài đại đức”. Nhưng trên đời này sẽ hiếm có người nào hiểu hết được cháu, bởi vì muốn thấu hiểu được cháu thì phải là những người tài cao đức cả, chí ít cũng phải là người có tài trí siêu việt hoặc đức độ siêu phàm.
Đúng lúc đó chuông điện thoại bàn reo vang. Đức Minh nhanh tay bắt máy và hỏi :
- Alo?
Một giọng nói phụ nữ vang lên :
- Xi..n xin cho tôi gặp thám tử tài hoa Đức Minh!
- Tôi chính là Đức Minh đây. Chị là ai, ở đâu và có việc gì vậy?
- Tô..i tôi là Nhân Dân ở xã Đông Hòa. Tôi tôi xin anh hãy giúp tôi khám phá một vụ án mạng và minh oan cho chồn..g chồng tôi.
- Chị hãy bình tĩnh và hãy bắt đầu kể lại sự việc cho tôi nghe.
- Tôi đang trên đường tới văn phòng của anh.
- Thế thì rất tốt! Tôi sẽ đợi chị.
- Xin cảm ơn anh! Cảm ơn anh nhiều lắm! Anh hãy cho tôi biết địa chỉ văn phòng của anh.
- 143, phố Phú Thọ 4, phường Phú Sơn, thành phố Thanh Hóa, gần cầu Cao đó.
- Xin cảm ơn anh! Hẹn gặp lại anh trong chốc lát nữa.
Đức Minh vừa đặt điện thoại xuống, trưởng công an phường Phú Sơn đã lên tiếng nói :
- Cháu sắp có khách. Chú về đây.
- Chúc chú “mã đáo thành công”.
Cả hai cùng sững sờ trước từ “chú” trong câu nói Đức Minh vừa thốt ra, nhất là trưởng công an phường Phú Sơn . Đã từ lâu lắm rồi, kể từ ngày đó, sự việc diễn ra như sau :
Cách đây 3 năm, có mấy cán bộ cao cấp ở ngoài Hà Nội vào tìm gặp Đức Minh nên phải thông qua công an phường. Lúc đó, Đức Minh cũng đang nghỉ hè ở nhà.
Trưởng công an phường Phú Sơn cho một cán bộ tới nhà mời Đức Minh lên phường. Đức Minh đã nói với người công an ấy :
- Đây là thời đại văn minh, các anh muốn mời tôi lên đồn thì phải có giấy triệu tập.
Người công an ấy ngập ngừng nói :
- Thủ trưởng của tôi chỉ muốn gặp anh hỏi chút việc nhỏ thôi.
- Tôi không thích lên đồn cãi nhau với các anh.
- Khôn..g không…
- Anh muốn mời tôi lên sớm thì tốt nhất anh nên làm đúng theo thủ tục. Ok?
Nghe thuộc cấp báo cáo lại, trưởng công an phường Phú Sơn đành phải viết giấy triệu tập. Cầm tờ giấy triệu tập lần thứ nhất trên tay, Đức Minh nói :
- Các anh mời thì tôi nhận, nhưng lên ngay hay chưa lên là quyền của tôi.
Đức Minh nghĩ thầm : “dù các người có viết giấy triệu tập đến cả trăm lần, ta cũng quyết không lên, thử xem làm gì được nhau nào, nếu bức bách nhau quá thì ta sẽ nhảy ra Hà Nội chơi”.
Trưởng công an phường Phú Sơn biết rằng không thể mời Đức Minh bằng giấy triệu tập, nếu làm cho cậu ta bực bội thì biết đâu cậu ta sẽ bỏ đi, như thế là sẽ xôi hỏng bỏng không. Trưởng công an phường Phú Sơn liền cho gọi cán bộ Quang tới, rồi hỏi :
- Cháu là bạn học thời tiểu học với Đức Minh phải không?
- Dạ! Phải! Thưa chú!
- Bây giờ cháu tới mời cậu ta được không?
Quang lưỡng lự nói :
- Chú có thể bảo ai khác thay cháu được không?
- Chú thấy phi cháu ra thì không ai có thể lay chuyển được cậu ta.
Quang đành phải nhận nhiệm vụ và không ngớt lo lắng. Quang nói :
- Đức Minh à! Cậu làm ơn theo mình lên đồn có chút việc đi.
Đức Minh hỏi lại :
- Ông tới đây với tư cách là bạn bè hay là công an?
Quang rụt rè trả lời :
- Với tư cách là bè bạn.
- Nếu là bạn bè. Tôi hỏi ông : “ông có còn nhớ thằng bé chuyên bị bè bạn bắt nạt và thỉnh thoảng lại bị bọn chúng tụt quần thường được ai cứu không”?
Biết Đức Minh kể lại chuyện của bản thân mình thời tiểu học, Quang càng thêm lúng túng nên không thể thốt thành lời. Đức Minh nói tiếp :
- Ông mới là chiến sĩ quèn, ngẩng lên thì không bằng ai, nhìn xuống cũng chẳng hơn ai. Sao mấy lần ông đã vội vênh váo lên mặt với tôi?
Thấy Đức Minh khinh bỉ mình, Quang sừng sộ :
- Vậy tôi tới đây với tư cách là công an mời ông lên đồn ngay, ông có chịu đi không?
- Ha! Ha! Ha! Nếu ông tới đây với tư cách là công an thì tôi sẽ không bao giờ thèm tiếp một tên luồn háng bố mà đi lên.
Bố Quang là trưởng phòng điều tra của sở công an Thanh Hóa nên đã chạy cho Quang một xuất học, rồi sau đó điều về phường Phú Sơn công tác.
Quang tức tối đến tím mặt, cậu ta rút ngay điện thoại ra và gọi :
- Chú Tân mau mau cử người khác tới lôi nó đi, chứ cháu xin chịu.
- Được rồi! Cháu cứ ngồi đó canh chừng cậu ta, sẽ có người tới ngay.
Một lát sau, có một ông phương phi cũng mặc thường phục tới. Sau khi nghe Quang giới thiệu, ông ta nhẹ nhàng nói :
- Bọn chú rất mong được cháu hợp tác giúp đỡ. Cháu làm ơn theo chú lên đồn có chút việc.
- Cháu sẽ lên với điều kiện.
Ông ta háo hức hỏi :
- Điều kiện gì?
- Các chú hãy làm sáng tỏ sự sai phạm trong việc trả lại mấy cái xe đạp là tang vật của bọn nhóc con đã dám tặng cháu “nửa chỉ”.
- Việc đó xảy ra đã lâu, cháu nhắc lại làm gì.
- Bọn nhóc con đó là những đứa nào?
- Chú không thụ lý việc đó nên không biết.
- Vậy chú hãy bảo sếp của chú tới đây nói chuyện với cháu.
Ông ta biết không thể khuất phục được Đức Minh bằng cách thức nhẹ nhàng nên đe dọa :
- Nếu cháu không lên, chú sẽ bắt cháu.
Đức Minh mỉa mai nói :
- Để xem chú có đủ tài đức không đã.
- Cháu dám thách thức chú sao?
- Chứ sao!
- Cháu đừng bắt chú phải nặng tay.
Đức Minh nóng mặt nói :
- Ông tử tế! Tôi tử tế lại! Ông thích dọa tôi sao? Ông mau mau đưa giấy tờ ra cho tôi kiểm tra.
- Mày là gì mà tao phải đưa giấy tờ - ông ta cũng không còn giữ được bình tĩnh, trong khi đó Quang vẫn thản nhiên làm ngơ.
- Vậy ông biến ngay ra khỏi nhà tôi.
- Mày dám…
- Ông có biến không nào.
Thấy ông ta vẫn ngồi không động đậy gì, Đức Minh biết cần phải lấy “độc để trị độc” nên nói :
- Ông không biến thì tôi biến. Nếu ông không ra tôi sẽ khóa cửa lại, cho ông ngồi đây còn tôi sẽ lên công an phường báo cáo có kẻ gian đột nhập vào nhà.
Thấy Đức Minh đi ra ngoài đường, ông ta và Quang đành phải đi theo, chỉ đợi có thế anh liền quay ngay vào nhà và chốt cửa ngõ lại. Ông ta thấy bị anh “xỏ mũi” liền xô cửa sắt ra và đi vào. Đức Minh thấy vậy lấy làm rất bực mình, anh to tiếng nói :
- Tôi rót nước mời ông. Ông không uống thì vẫn là của ông – nói xong, Đức Minh cầm ngay lấy cốc nước đó hắt thẳng vào mặt ông ta.
Do quá bất ngờ nên ông ta lãnh đủ. Nhìn ông ta hầm hầm tức tối mà không làm được gì. Anh quát :
- Ông không mau mau biến đi là tôi hô hoán nhân dân đó.
Biết không thể làm gì được Đức Minh, thấy tình hình đã trở nên quá căng thẳng nên ông ta đành phải vội vã bỏ đi.
Sau đó, trưởng công an phường Phú Sơn đích thân tới nhà Đức Minh. Để tránh bị thất bại như các đồng nghiệp, ông ta tìm cách tránh xảy ra căng thẳng nên không đi thẳng ngay vào vấn đề. Ông ta hỏi :
- Cháu học hành thế nào?
Thấy ông ta nói năng từ tốn, dù sao ông ta cũng là người có vai vế trong phường nên vuốt mặt phải nể mũi. Đức Minh trả lời :
- Cám ơn chú đã hỏi han. Cháu học hành bình thường.
- Cháu là một trong những học trò suất sắc của phường, chú cũng biết ít nhiều về thành tích học tập của cháu. Dạo này cháu còn thích nghề điều tra khám phá không?
- Đó là một trong những sở thích của cháu.
- Chú làm công tác điều tra nên biết đó là một nghề rất khó khăn.
- Còn cháu cảm thấy rất thú vị.
- Thú vị? Chú không hiểu. Cháu nói rõ được không?
- Thú vị ở chỗ là được đối mặt và khám phá những nghệ thuật giết người.
- Nghệ thuật? Cháu nói như thế là sai rồi.
- Nếu đứng ở góc độ nhân sinh thì không ai cho giết người là nghệ thuật; nhưng đứng ở góc độ điều tra, nếu giết người không phải là nghệ thuật thì cần gì phải khám phá. Với xã hội, họ là tội phạm nguy hiểm, nhưng nhờ có họ mà những người làm nghề điều tra phá án mới không bị thất nghiệp - Đức Minh nói xong liền nở một nụ cười vui vẻ.
Biết anh nói hài hước nên trưởng công an phường Phú Sơn cũng vui vẻ cười đáp trả lại. Lát sau, ông ta nói :
- Chú không muốn giấu giếm cháu nữa. Sự thực là có mấy cán bộ cao cấp ở ngoài Hà Nội vào đây tìm gặp cháu để nhờ cháu chút việc.Rất mong được cháu giúp đỡ cho.
- Chắc chú đã biết. Cháu chỉ lên đồn một khi các chú chịu trừng trị người đã làm sai phạm công tác điều tra trọng vụ cháu bị mấy kẻ tặng cho “nửa chỉ” trước toàn thể bà con nhân dân.
Trưởng công an phường Phú Sơn lúng túng đáp lại :
- Việ..c việc đó hơi khó khó khăn với chú.
- Các chú đã làm sai trái thì phải nên biết sửa sai. Các chú không thể cho bản thân mình cũng như đồng nghiệp của mình cái quyền được phép làm sai trái mà không phải sửa chữa được. Bắt tội phạm đã khó, sửa đổi tâm tính của tội phạm càng khó, dám thừa nhận và biết sửa chữa sự sai phạm của chính mình lại càng khó hơn; nhưng không phải là không làm được, mình không bảo được mình thì còn bảo được ai, một khi đã làm được việc “khó khăn” đó thì những việc “dễ dàng” kia có gì mà không làm được.
- Nhưng nhưng…
- Nếu không thì các chú đừng bao giờ khuất phục được cháu.
- Sao cháu lại nói là khuất phục? Các chú chỉ chỉ tới thuyết phục cháu thôi.
- Đại Đức Bồ Đề Đạt Ma đã nói : “lời nói không thể hiện hết được ý lòng”. Chú hãy về và suy nghĩ kỹ những điều cháu đã nói.
Trưởng công an phường Phú Sơn lủi thủi ra về và trao đổi lại với mấy cán bộ cao cấp những khó khăn nan giải của bản thân mình đang mắc phải, họ đành quyết định trực tiếp tới nhà gặp Đức Minh. Nhưng những điều họ hứa với Đức Minh, họ đã nuốt trôi nên kể từ đó anh luôn luôn gọi trưởng công an phường Phú Sơn là “lão đệ”.
**
*
Hai ngày trước đó.
Tại công an xã Đông Hòa, vị trưởng công an xã nói :
- Hai đồng nghiệp của anh vừa mới qua đây yêu cầu chúng tôi đưa tới nhà mấy vị thương binh. Anh vẫn giữ ý định liệt họ vào danh sách tình nghi hay sao?
Tạc Bình quả quyết :
- Đúng thế!
Vị trưởng công an xã ái ngại nói :
- Anh xem xét lại cho. Dù sao họ cũng là người có công lớn với cách mạng. Họ là cựu chiến binh đấy.
Tạc Bình nhấn giọng :
- Luật pháp bất vị thân. Bất cứ ai phạm tội đều bị bắt, bất kỳ ai có dấu hiệu phạm tội đều có thể bị tình nghi.
- Tôi tôi chỉ góp ý để anh cân nhắc thôi.
- Cám ơn anh!
Tạc Bình nghĩ thầm : “ngày nay cái nạn “dĩ hòa vi quý” thật nguy hiểm! Cựu chiến binh, chứ có là vua là chúa thì cũng không bao giờ là ngoại lệ, không thể nào được phép đứng ngoài vòng pháp luật”.
Tạc Bình hỏi :
- Anh làm ơn cho biết ở xã này có những ai mới chuyển đến đây?
- Có cả thảy mười sáu người. Có bốn người mới từ nước ngoài trở về từ trước tết; trong đó có ba người trở về theo dạng xuất khẩu lao động, đến nay họ vẫn đang lang thang vì chưa tìm được việc làm mới và một bác gái hơn sáu mươi tuổi sang nước ngoài định cư tạm thời với con trai cả. Có hai người tới đây ở rể, người ở rể lâu nhất đã hơn hai năm. Có bốn hộ tới đây mua nhà; trong đó có ba người đã có tiền án tiền sự, một người làm ăn phá sản, phải bán nhà trả nợ và thỉnh thoảng lại tổ chức đánh bài bạc còn hai người phụ nữ hành nghề mại dâm là chị em cùng mở một quán giải khát.
- Tốt lắm! Bây giờ anh hãy cho người đưa tôi tới nhà mấy người có tiền án tiền sự.
Trong lúc đó, Đinh Hợi và Bính Tuất cùng với một công an xã đi tới nhà vị thương binh bị cụt cánh tay phải ở làng Hòa Thuận.
Vị công an xã lên tiếng gọi :
- Bác Vũ Dũng có nhà không?
- Ai đó? Mời vào!
Có một đàn chó lao ra sủa vang, nhất là con cầm đầu, nó là một con chó đực duy nhất trong đàn. Ông chủ nhà càng đe, nó lại càng sủa to hơn; nó cứ thi gan như thế cho tới lúc ông ta đi ra nện cho nó một đá, nó vừa kêu “ăng ẳng” vừa co vòi chạy mất hút.
Ông chủ nhà là một người cao to, khuôn mặt đỏ au, đôi mắt dữ tợn; độ chừng gần sáu mươi tuổi. Ông ta hỏi :
- Mấy chú công an tìm đến nhà tôi có việc gì vậy?
Đinh Hợi nhanh nhảu đáp :
- Chúng cháu đến thăm bác ạ!
- Quý hóa quá! Quý hóa qúa!
Vị công an xã còn đang ngần ngại bước vào thì cả Đinh Hợi lẫn Bính Tuất đã vội vã định bước vào nhà ngay. Ông ta lên tiếng hỏi :
- Mọi lần đều có cán bộ xã với trưởng thôn và chủ tịch hội phụ nữ đi cùng. Sao hôm nay không thấy ai cả?
Ba vị công an không biết trả lời ra sao. Ông ta liền nói :
- Không sao! Tôi đang có việc muốn trao đổi với các anh đây. Các anh mau mau vào nhà đi.
Ông ta lên tiếng nói :
- Sao lâu nay các anh cứ làm ngơ cho mấy con hành nghề mại dâm trong vùng này, cái anh định a dua theo chúng nó để phá vỡ thuần phong mỹ tục của làng của xã này hả.
Ba vị công an chưa biết trả lời thế nào. Ông ta lại nói tiếp :
- Và cả cái thằng chuyên môn tổ chức đánh bài bạc nữa, suốt ngày nó lôi kéo con cháu của tôi đó.
Đinh Hợi ấp úng nói :
- Thưa bác! Chúng cháu sẽ tổ chức theo dõi để sớm bắt quả tang ạ.
Ông ta liền săm soi vào mặt, rồi vào phù hiệu của Đinh Hợi với Bính Tuất, rồi nói :
- Hai cậu là công an huyện hả?
- Dạ! Dạ vâng!
Ông ta gắt gỏng :
- Các cậu đừng có nói phét. Công an xã lâu nay còn không chịu làm gì, đợi mấy cán bộ ngồi ở tận đẩu tận đẩu như các vị can thiệp thì nhân dân chúng tôi còn phải mỏi mòn con mắt.
Thấy chủ nhà quá bức xúc, họ đành im re. Ông ta lại lên tiếng :
- Nếu không có công an các cậu thì tôi đây chỉ cần ba phát đạn là chúng đi chầu diêm vương hết.
Bính Tuất và Đinh Hợi chưa kịp phản ứng gì thì ông ta đã nói tiếp :
- Tư tưởng cách mạng của cựu chiến binh chúng tôi là : “họng súng đẻ ra chính quyền”. Nếu các anh không làm gì được chúng thì tôi sẽ giết hết giết hết.
Ba vị công an đưa mắt thậm thụt nhìn nhau lè lưỡi lắc đầu trước tư tưởng rất phi-đen của vị thương binh. Đinh Hợi lên tiếng :
- Bây giờ chúng cháu xin phép ra về và chúng cháu xin hứa sẽ bày tỏ nguyện vọng của bác với trưởng công an xã.
Ông ta không hài lòng với cách nói năng đó, trừng mắt lên và nói to :
- Các anh là đầy tớ của nhân dân, nhân dân nói gì thì các anh phải nghe nấy, các anh không làm được thì hãy xin về vườn, chẳng lẽ không có các anh thì không còn ai thay thế được sao, một khi đã làm thì hãy làm cho đến nơi đến chốn tận tâm tận lực hết lòng hết sức.
Ba người bọn họ vội vàng lủi bước nhanh chóng thoát khỏi cụ cựu chiến sĩ như người đời thường có câu : “gừng càng già càng cay”. Đinh Hợi than vãn :
- Ôi! Nếu không sớm thoát ra khỏi chỗ đó thì tớ đã bị ngộ độc lý luận mất rồi.
Vị công an xã góp ý :
- Ông ta là một hung thần, rất gia trưởng và đầy mệnh lệnh. Bọn choai choai và những kẻ có tiền án tiền sự gặp ông ta là mất hồn mất vía ngay, kể cả chúng tôi. Thỉnh thoảng ông ta vẫn lên xã hạch sách chúng tôi đó. Chỉ có vào dịp đoàn thể tới thăm viếng là ông ta mới trở nên điềm đạm.
Bính Tuất ái ngại quay lại nói nhỏ với Đinh Hợi :
- Chúng ta vẫn chưa tìm hiểu được gì về các mối quan hệ của ông ta.
Đinh Hợi cũng ghé vào tai Bính Tuất và nói nhỏ :
- Với một người thích bạo lực như ông ta thì có việc gì là ông ta không dám làm.
- Nhưng những gì ông ta nói đều rất đúng đó chứ. Phải có nhiều người mạnh dạn bày tỏ thẳng thừng như ông ấy thì những người có nghĩa vụ thi hành công vụ mới nhiệt tình công tác được.
- Vậy cậu hãy tới đó mà nghe ông ta thuyết giảng.
- Cậu đúng là bảo thủ.
Đinh Hợi nóng mặt đáp trả :
- Thế theo cậu bảo thủ là gì?
Bính Tuất trả lời :
- Bảo thủ nghĩa là bảo vệ ý kiến của chính mình.
- Như thế bảo thủ là xấu hay là tốt và cậu bảo tôi bảo thủ thì cậu có phải là người hồ đồ hay là kẻ hiếu thắng, là kẻ cố chấp không?
Không ngờ bị đối phương vặn vẹo lại, Bính Tuất không biết đối đáp lại làm sao nên ấp úng nói :
- Điều đó điều đó…
Đinh Hợi lên tiếng dạy đời :
- Cậu đừng có bao giờ nhại theo như một con vẹt mà không hiểu gì những điều mình đã nói ra.
Đúng lúc đó vị công an xã dừng xe lại và nói :
- Đây là nhà của thương binh Uy Vũ, cụ là một người có khuôn mặt quắc thước, thân hình nhỏ nhắn, năm nay đã hơn tám mươi tuổi, thời trai trẻ cụ đã lập được rất nhiều chiến công vô cùng hiển hách.
Sau khi lên tiếng gọi mãi không thấy ai trả lời, họ liền tiến bước vào nhà. Cụ Uy Vũ đang loay hoay quét mạng nhện, ngay lúc đó cụ quay ra cửa sổ và trông thấy mấy vị công an bèn đon đả chạy ra chào hỏi :
- Các chú công an đến nhà chơi đó hả?
- Dạ! Vâng! Chúng cháu xin chào cụ ạ.
- May quá! May quá! Mấy chú vào giúp tôi quét đám mạng nhện trên trần nhà với, tôi đang loay hoay mãi mà không với tới được.
Ba vị khách không ngờ lại bị rơi vào trường hợp khó xử. Đinh Hợi nói nhỏ với Bính Tuất, anh ta than phiền :
- Không biết hôm nay là ngày gì mà đen đủi thế không biết. Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Có lẽ tôi phải tìm cách chuồn chuồn thôi.
Bính Tuất lúc lắc đầu và mỉm cười ra vẻ cảm thông với bạn. Đinh Hợi tiến về phía cụ già, anh ta lên tiếng :
- Thưa cụ! Cháu có việc gấp, cháu sẽ quay lại ngay.
Cụ già lảng tai nặng nghe chữ được chữ không, cụ chỉ nghe được mấy chữ là “cháu … việc … ,cháu sẽ … ngay”. Cụ liền hỏi lại :
- Có phải cháu nói : “cháu thích việc đó, cháu sẽ làm ngay không”? Các cháu tốt quá.
Hai người kia không ngờ lại bị Đinh Hợi báo hại còn Đinh Hợi dở mếu dở cười trước cụ già lảng tai nặng. Bọn họ còn chưa biết nói gì thì cụ già lại nói tiếp :
- Kính lão đắc thọ. Giúp già, già để tuổi cho.
Biết không thể nào từ chối nổi, Bính Tuất đành nói to :
- Thưa cụ! Anh đây – vừa nói Bính Tuất vừa chỉ vào người Đinh Hợi – có việc gấp phải trở lại trụ sở công an xã, hai cháu xin ở lại giúp cụ.
Lần này cụ già nghe trọn vẹn, cụ đáp lại :
- Cám ơn hai cháu! Cám ơn hai cháu! Cụ vừa có đúng hai cái chổi, hai cháu mau mau giúp cụ, một loáng là xong ngay đấy mà.
Sau đó cụ quay sang Đinh Hợi và nói :
- Anh đi luôn hả! Mong cho anh thượng lộ bình an.
Đinh Hợi chào cụ, rồi xoay người bước đi và miệng lẩm bẩm :
- Lão già khôn lỏi. Đường làng vắng vẻ, lão chúc như thế có khác gì rủa cho mình gặp tai nạn.
Đinh Hợi rời khỏi nhà cụ Uy Vũ, anh tính toán chắc hai người đó ở lại quét mạng nhện còn lâu mới xong nên anh tranh thủ ra quán ngồi uống nước chán chê, rồi mới quay lại trụ sở công an xã để ngồi chờ đợi Bính Tuất đi điều tra trở về.
Lại nói về Tạc Bình, đầu tiên anh cùng với một viên công an xã tới nhà tên chuyên tổ chức đánh bài bạc.
Đến nơi thấy cửa khóa trong nhưng hai người gõ cửa và gọi mãi mà không thấy y ra. Viên công an xã nói :
- Chắc tối qua hắn chơi bài bạc xuyên đêm nên bây giờ lăn ra ngủ như chó chết rồi.
Tạc Bình đành nói :
- Thôi! Hãy tạm tha cho con chuột nhắt sợ ánh sáng ban ngày đó vậy. Bây giờ anh làm ơn đưa tôi qua nhà mấy con mụ hành nghề mại dâm.
Vị công an xã tươi cười nói :
- Chúng nó còn trẻ đẹp lắm, có đứa mới ngoài hai mươi tuổi thôi, chưa già và xấu đến mức để anh phải gọi là mụ đâu.
- Thôi! Thôi! Trong việc quân miễn nhắc tới đàn bà.
Hai người lại leo lên hai chiếcxe máy, trông họ như hai chiến sĩ cưỡi trên lưng hai con ngựa sắt.
Thấy hai vị công an bước vào, chị chủ quán trẻ đon đả nói :
- Em chào các anh! Không biết ngọn gió nào đã đưa các anh tới đây vậy.
Trong khi vị công an xã đang háu háu nhìn thân thể bốc lửa của cô ta thì Tạc bình lên tiếng :
- Chúng tôi có thể ngồi được không?
Cô gái đó ra vẻ e lệ đáp :
- Dạ! Dạ! Em xin mời các anh ngồi ạ! Các anh có uống gì không để em phục vụ ạ!
Tạc Bình chưa kịp nói gì, viên công an xã đã nhanh nhảu đáp :
- Em cho bọn anh xin hai chai O2.
Chủ quán tươi cười nói :
- Có ngay! Có ngay!
Đó là một quán giải khát nhỏ nằm cách khu dân cư một đoạn không xa, phía gian nhà trong chỉ có ánh sáng mập mờ còn cô chủ quán trẻ là một người đẫy đà chỉ có thể đủ sức hấp dẫn con nhà nghèo như vị công an xã đi cùng.
Vô tình Tạc Bình quan sát thấy một cây gậy gỗ dựng ở góc nhà, trên thân cây gậy có dấu vết khả nghi nên anh liền tiến tới và cầm lên xem. Anh thấy ngay dấu vết khả nghi đó giống như là vết máu khô. Anh mang lại cho viên công an xã xem, viên công an xã mới liếc qua đã hấp tấp quát hỏi ngay :
- Cô chủ quán! Tại sao trên thân cây gậy này có vết máu – vừa nói ông ta vừa giơ cậy gậy về phía cô gái.